Công vụ 18: " Phao lô đến thành Cô rinh tô "
" Vì, tại thế gian cậy sự khôn ngoan mình, chẳng nhờ sự khôn ngoan Đức Chúa Trời mà nhận biết Đức Chúa Trời, nên Ngài đành lòng dùng sự giảng dồ dại của chúng ta mà cứu rỗi những người tin cậy." I Cô rinh tô đoạn 1: 21
Công vụ 18: "Phao lô đến thành Cô rinh tô "
Câu hỏi:
1/ Phao lô có luôn ưu tiên giảng đạo cho người Do Thái trước không?
thường kết quả ông gặp ra sao?
2/ Khi bị từ chối, Phao lô đã phủi bụi trên áo mình ra đi, như thế có hợp lẽ trong Kinh Thánh không?
3/ Điều gì khiến Phao lô ở lại lâu trong thành Cô rinh tô?
Ông đã viết thư tín nào về thành nầy trong Kinh thánh?
****
"Phao lô đến thành Cô rinh tô "
*** Phao lô đến Cô rinh tô -Gặp Aquila và Priscilla : câu 1-3
" Rồi đó, Phao-lô đi khỏi thành A-thên, mà tới thành Cô-rinh-tô. 2 Tại đó, người gặp một người Giu-đa, tên là A-qui-la, quê ở xứ Bông, mới từ nước Y-ta-li đến đây với vợ mình là Bê-rít-sin, bởi vì vua Cơ-lốt có chỉ truyền mọi người Giu-đa phải lánh khỏi thành Rô-ma; Phao-lô bèn hiệp với hai người. 3 Vì đồng nghề, nên Phao-lô ở nhà hai người mà làm việc chung nhau; vả, nghề các người đó là may trại."
Đến Cô-rinh-tô:
Cô-rinh-tô là một thành phố lớn của Đế chế La Mã, nằm ở ngã tư giao thương và giao thông quan trọng. Đó cũng là một thành phố nổi tiếng về lối sống trụy lạc và vô đạo đức.
Vào thời của Phao-lô, Cô-rinh-tô đã là một thành phố cổ. Đó là một trung tâm thương mại với hai bến cảng lớn, từ lâu đã là đối thủ của Athens, thành phố láng giềng phía bắc mà Phao lô vừa trãi qua cách đó chỉ 45 miles.
Cô-rinh-tô nổi tiếng với lối sống phóng túng và đặc biệt là sự vô đạo đức về tình dục. Trong tiếng Hy Lạp cổ điển, hành động như người Cô-rinh-tô có nghĩa là thực hành tà dâm, và nếu người ta nói người đó là bạn đồng hành Cô-rinh-tô, có nghĩa là một gái mại dâm.
Sự vô đạo đức về tình dục này được cho phép dưới sự thờ cúng phổ biến rộng rãi nữ thần Aphrodite (còn được gọi là Venus, nữ thần sinh sản và tình dục).
Năm 146 trước Công nguyên, Cô-rinh-tô nổi dậy chống lại La Mã và bị quân đội La Mã tàn phá một cách tàn bạo. Thành phố nằm trong đống đổ nát suốt một thế kỷ, cho đến khi Julius Caesar xây dựng lại thành phố. Cô rinh tô nhanh chóng thiết lập lại vị trí trước đây của mình như một trung tâm thương mại, nơi đó vô đạo đức đủ loại. Một nhà văn cổ đại đã mô tả Cô-rinh-tô là một thị trấn mà “chỉ những người mạnh mẽ mới có thể sống sót.”
Trong sách Rô ma đoạn 1 từ câu 22 - 32 Phao lô mô tả về sự suy đồi của người ngoại giáo trong bức thư Rô ma đó, người ta gần như chắc chắn thấy được hình ảnh phản chiếu những gì ông đã tìm thấy ở Cô-rinh-tô:
"Họ đầy dẫy mọi sự không công bình, độc ác, tham lam, hung dữ; chan chứa những điều ghen ghét, giết người, cãi lẫy, dối trá, giận dữ; 30 hay mách, gièm chê, chẳng tin kính, xấc xược, kiêu ngạo, khoe khoang, khôn khéo về sự làm dữ, không vâng lời cha mẹ; 31 dại dột, trái lời giao ước, không có tình nghĩa tự nhiên, không có lòng thương xót."
Họ thờ mọi thứ hình tượng gớm ghiết, điểu thú, côn trùng - Tà dâm và rất nhiều kẻ đồng tính luyến ái.
Cô rinh tô là nơi mà Phao lô chú tâm đến nhiều hơn những chỗ khác, ông biết rằng Cô-rinh-tô là thành phố ở trung tâm, mọi người từ khắp nơi trong đế chế La Mã đều có thể phải đi qua đó, một hội thánh vững mạnh ở Cô rinh tô có thể ảnh hưởng đến cuộc sống của nhiều người trên khắp lãnh thổ của La mã.
Phao lô cũng biết Cô-rinh-tô là một thành phố khó khăn đối với Tin lành, nhưng trong lòng của người tiên phong đi truyền giáo đó, có một tâm tình của Đức Chúa Trời: "nơi nào tội lỗi nhiều, thì ân điển càng gia tăng", Phao lô không chỉ quan tâm đến việc thành lập các hội thánh ở những nơi dễ dàng.
Tại thành phố Cô rinh tô, Phao lô gặp hai vợ chồng người Do Thái tên là Aquila, cùng vợ là Priscilla. Mặc dù không được nêu rõ, nhưng có thể hiểu rằng Aquila và Priscilla lúc đó đã là tín hữu. Nhưng cũng có thể Phao-lô đã dẫn dắt cả hai người đến với Chúa Giê-su khi họ cùng nhau làm nghề may lều trại (hay đúng hơn kết hợp với nghề thuộc da).
Đây là khởi đầu của một trong những tình bạn cốt lõi của Phao lô trong Tân Ước – Phao-lô gọi họ là những người cộng sự của mình, những người đã liều mạng sống vì ông (Rô-ma 16:3-4).
"Hãy chào Bê-rít-sin và A-qui-la, kẻ cùng làm việc với tôi trong Đức Chúa Jêsus Christ, 4 là hai người liều chết để cứu sự sống tôi; ấy chẳng những một mình tôi tạ ơn hai người, nhưng cả các Hội thánh của dân ngoại nữa."
Việc làm lều trại của Phao-lô là một chi tiết được nêu ra trong chức vụ của ông. Mặc dù Phao lô cho rằng, xét theo lời Kinh Thánh, tôi tớ Chúa có quyền hưởng được những chu cấp từ các Tín hữu và Hội thánh (1 Cô-rinh-tô 9:7-14), nhưng Phao lô vẫn tự nguyện làm việc, tự nuôi sống bản thân trong khi đi truyền giáo và giảng đạo, để không ai có thể buộc tội ông tìm kiếm người cải đạo chỉ vì lợi ích cá nhân (1 Cô-rinh-tô 9: 9 - 15)
" Vì chưng có chép trong luật pháp Môi-se rằng: Ngươi chớ khớp miệng con bò đang đạp lúa. Há phải Đức Chúa Trời lo cho bò sao? 10 Quả thật Ngài nói câu đó về chúng ta mà có chép rằng ai cày ruộng phải trông cậy mình sẽ có phần mà đạp lúa. 11 Nếu chúng tôi đã gieo của thiêng liêng cho anh em, mà muốn thâu lại của vật chất của anh em, thì nào có phải một việc quá lẽ đâu? 12 Người khác còn có quyền ấy trên anh em, huống chi là chúng tôi? Dầu vậy, chúng tôi chẳng từng dùng quyền ấy; nhưng chúng tôi chịu mọi sự, hầu cho khỏi làm ngăn trở Tin Lành của Đấng Christ chút nào. 13 Anh em há chẳng biết rằng ai hầu việc thánh thì ăn của dâng trong đền thờ, còn ai hầu việc nơi bàn thờ thì có phần nơi bàn thờ sao? 14 Cũng vậy, Chúa có truyền rằng ai rao giảng Tin Lành thì được nuôi mình bởi Tin Lành. 15 Phần tôi thì chẳng từng dùng quyền ấy chút nào, và viết thơ nầy chẳng phải để đòi quyền ấy lại; vì tôi thà chết còn hơn là chịu ai cất lấy cớ khoe mình nầy đi."
Trong câu 2 nói Vua Claudius đã ra lệnh cho tất cả người Do Thái rời khỏi Rome: Nhà sử học La Mã viết rằng Claudius đã trục xuất người Do Thái khỏi Rome vì họ “thường xuyên gây bạo loạn dưới sự xúi giục của Chrestus”.
Tới bây giờ, vẫn không biết Chrestus là ai, người ta ngờ rằng đó là tên gọi Chúa Giê su. Điều nầy cho thấy nhà cầm quyền La mã đã có thái độ chống đối Tin lành ngay trong thời điểm nầy rồi, có vẻ như việc trục xuất người Do Thái khỏi Rome xảy ra vào khoảng năm 49 sau Công nguyên.
*** Phao lô giảng đạo cho người ngoại và tín hữu Giu đa tại nhà Hội: câu 4 & 5
" Hễ đến ngày Sa-bát, thì Phao-lô giảng luận trong nhà hội, khuyên dỗ người Giu-đa và người Gờ-réc.5 Khi Si-la và Ti-mô-thê từ xứ Ma-xê-đoan đến, thì Phao-lô hết lòng chuyên lo về sự giảng dạy, làm chứng với người Giu-đa rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ."
Phao lô vẫn dùng Hội đường Do thái để giảng luận trong mỗi ngày Sa-bát, Phao-lô đã đạt hiệu quả tốt khi ông tranh luận với người Do Thái và người Hy Lạp ở đây. Những người Hy Lạp có mặt trong hội đường là những người ngoại bang quan tâm và có thiện cảm với Do Thái giáo. Sau này, Phao-lô mô tả tính chất của việc rao giảng mạnh mẽ của mình ở Cô-rinh-tô rằng: "Tôi đã quyết định không biết điều gì khác ngoài Chúa Giê-su Christ và Ngài bị đóng đinh trên thập tự giá" (1 Cô-rinh-tô 2:1-16).
Lúc nầy, Ti mô thê và Si la cũng từ xứ Ma xê đoan đến cùng Phao lô, họ mang tin tức tốt lành về việc các tín hữu ở Tê-sa-lô-ni-ca vẫn kiên định trong đức tin (1 Tê-sa-lô-ni-ca 3:6-10).
Điều này mang lại cho Phao-lô niềm vui lớn, thúc đẩy ông tiếp tục công việc truyền giáo mà Thánh Linh đang thúc đẩy ông. Phao lô đã đáp lại các tín hữu bằng cách viết thư 1 Tê-sa-lô-ni-ca từ Cô-rinh-tô.
Theo 2 Cô-rinh-tô 11:8-9, trong khi Phao-lô ở Cô-rinh-tô, sự hỗ trợ tài chính đã đến từ các tín hữu ở Phi-líp, và ông có thể tạm gác lại việc làm lều và tập trung hơn vào việc xây dựng hội thánh ở Cô-rinh-tô.
" Tôi đã nhận lương hướng, vét lấy của Hội thánh khác đặng giúp việc anh em. 9 Khi tôi ở cùng anh em, gặp phải lúc thiếu thốn, thì không lụy đến ai cả; vì các anh em ở xứ Ma-xê-đoan đến, đã bù lại sự thiếu thốn cho tôi. Không cứ việc gì, tôi đã giữ mình cho khỏi lụy đến anh em, tôi lại cũng sẽ giữ mình như vậy nữa."
Qua những chi tiết nầy, người ta thấy nơi Phao lô một sự thận trọng trong chức vụ của mình, dẫu ông xã thân trong gian khổ để rao giảng Phúc âm, nhưng ông không muốn có những hiểu lầm về tư cách của người đại diện cho Tin lành của Đấng Christ.
*** Chống đối nổi lên ở Cô rinh tô: câu 6 & 8
"Nhưng, vì chúng chống cự và khinh dể người, nên người giũ áo mình mà nói rằng: Ước gì máu các ngươi đổ lại trên đầu các ngươi! Còn ta thì tinh sạch; từ đây, ta sẽ đi đến cùng người ngoại. 7 Phao-lô ra khỏi đó, vào nhà một người tên là Ti-ti-u Giút-tu, là kẻ kính sợ Đức Chúa Trời, nhà người giáp với nhà hội. 8 Bấy giờ Cơ-rít-bu, chủ nhà hội, với cả nhà mình đều tin Chúa; lại có nhiều người Cô-rinh-tô từng nghe Phao-lô giảng, cũng tin và chịu phép báp-têm."
Cũng y hệt như khi ở những nơi khác, nhà Hội Do Thái là nơi Phao lô luôn đến trước, nhưng cũng ở nhà Hội, người Do Thái chống đối ông và nói lời phạm thượng. Sự phạm thượng chắc chắn hướng đến Chúa Giê-su, vì Phao-lô chỉ rao giảng Chúa Giê-su là Đấng Mê-si, làm chứng cho người Do Thái rằng Chúa Giê-su là Đấng Christ. Người Do thái nói phạm tới Chúa Giê-su, nhưng chính họ đã phạm thượng đối với Đức Chúa Trời.
Phao lô đã không còn kiên nhẫn với người Do Thái ở Cô rinh tô, ông tuyên bố:" Từ nay trở đi tôi sẽ đến với người ngoại."
Phao-lô luôn dành cảm tình sâu sắc của mình cho dân của ông, ông cảm nhận mạnh mẽ trách nhiệm của mình là phải rao giảng cho người Do Thái trước (Rô-ma 1:16)
" Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Tin Lành đâu, vì là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin, trước là người Giu-đa, sau là người Gờ-réc; "
Nhưng khi thông điệp của ông bị từ chối, ông không lãng phí thời gian mà lập tức đến với người ngoại. Phao-lô đã thực hiện đúng tinh thần lời Chúa Giê-su nói trong Ma-thi-ơ 7:6:
“ Đừng cho chó những đồ thánh, và đừng quăng hột trai mình trước mặt heo, kẻo nó đạp dưới chân, và quay lại cắn xé các ngươi. ”
Khi người ta quyết tâm từ chối phúc âm, chúng ta không nên tiếp tục cố gắng với họ trừ khi cánh cửa mở ra trở lại.
Phao lô bày tỏ thái độ từ chối người Do Thái bằng cách rũ bỏ quần áo, ông làm điều này để không một hạt bụi nào từ hội đường còn dính trên quần áo, chứ đừng nói đến giày dép của ông. Đây là một cách thể hiện đầy kịch tính về sự từ chối của Phao lô đối với sự khước từ Tin lành từ phía họ. Phao-lô chắc chắn đã có khả năng thể hiện thông điệp của mình một cách kịch tính và sống động.
Phao lô đã làm chứng cho Crispus, người cai quản hội đường, tin Chúa cùng với cả gia đình, điều này cho thấy Phao-lô đối xử với người Do Thái ở Cô-rinh-tô bằng tình yêu thương và ân điển, ngay cả sau khi họ từ chối ông và thông điệp của ông. Phao lô chắc chắn không bỏ người Do Thái ra ngoài, ông chỉ chuyển trọng tâm việc truyền giáo của mình từ người Do Thái sang người ngoại bang.
Một chi tiết rất thú vị là Phao lô khi ra khỏi nhà Hội, ông không đi đâu xa, chỉ là lánh sang nhà bên cạnh vì một tín hữu tin Chúa tên Ti-ti-u Giút-tu (Justus) có nhà ở sát vách, họ còn có nội ứng là Cơ-rít-bu, chủ nhà hội, cùng với cả nhà ông đều tin Chúa. Hai người cốt lõi nầy họp lại, chẳng lâu sau, sẽ có ngay một nhà Hội của Đấng Christ ở sát bên cạnh những kẻ chống đối. Tại nơi đó đã có nhiều người tin nhận Chúa Giê su và làm Báp têm, trong 1 Cô-rinh-tô 1:26 - 31 Phao lô mô tả những người nầy thuộc thành phần nào:
" Hỡi Anh em, hãy suy xét rằng ở giữa anh em là kẻ đã được gọi, không có nhiều người khôn ngoan theo xác thịt, chẳng nhiều kẻ quyền thế, chẳng nhiều kẻ sang trọng. 27 Nhưng Đức Chúa Trời đã chọn những sự dại ở thế gian để làm hổ thẹn những kẻ khôn; Đức Chúa Trời đã chọn những sự yếu ở thế gian để làm hổ thẹn những sự mạnh; 28 Đức Chúa Trời đã chọn những sự hèn hạ và khinh bỉ ở thế gian, cùng những sự không có, hầu cho làm những sự có ra không có, 29 để chẳng ai khoe mình trước một Đức Chúa Trời. 30 Vả, ấy là nhờ Ngài mà anh em ở trong Đức Chúa Jêsus Christ, là Đấng mà Đức Chúa Trời đã làm nên sự khôn ngoan, sự công bình, sự nên thánh, và sự cứu chuộc cho chúng ta; 31 hầu cho, như có lời chép rằng: Ai khoe mình, hãy khoe mình trong Chúa."
*** Chúa an ủi và khích lệ Phao lô ở lại: câu 9 -11
" Ban đêm, Chúa phán cùng Phao-lô trong sự hiện thấy rằng: Đừng sợ chi; song hãy nói và chớ làm thinh; 10 ta ở cùng ngươi, chẳng ai tra tay trên ngươi đặng làm hại đâu; vì ta có nhiều người trong thành nầy. 11 Phao-lô ở lại đó một năm sáu tháng, dạy đạo Đức Chúa Trời trong đám họ. 12 Lúc Ga-li-ôn đang làm quan trấn thủ xứ A-chai, người Giu-đa đồng lòng nổi lên nghịch cùng Phao-lô và kéo người đến tòa án, 13 mà nói rằng: Người nầy xui dân thờ Đức Chúa Trời một cách trái luật pháp. 14 Phao-lô vừa toan mở miệng trả lời, thì Ga-li-ôn nói cùng dân Giu-đa rằng: Hỡi người Giu-đa, giá như về nỗi trái phép hay tội lỗi gì, thì theo lẽ phải ta nên nhịn nhục nghe các ngươi. 15 Song nếu biện luận về đạo lý, danh hiệu, hay là luật pháp riêng của các ngươi, thì hãy tự xử lấy; ta chẳng khứng xử đoán những việc đó đâu. 16 Người bèn đuổi chúng ra khỏi tòa án. 17 Bấy giờ, chúng bắt Sốt-then, chủ nhà hội, đánh đòn trước tòa án, nhưng Ga-li-ôn chẳng lo đến việc đó."
Thật cảm động khi biết Chúa lúc nào cũng theo dõi nhịp đập trong trái tim Phao lô, Ngài hiểu rằng Phao lô đang lo sợ, Chúa phán với ông: " Đừng sợ hãi" Ý nghĩa đằng sau lời khuyên này là Phao-lô đang sợ hãi, ông lo rằng công việc của ông ở Cô-rinh-tô sẽ bị gián đoạn bởi những người Do Thái chống đối, hoặc bởi sự trụy lạc tràn lan xung quanh Phao lô, ông cảm thấy ngộp thở trong bầu không khí đó.
Ở A-thên, Phao-lô đã trải qua cú sốc văn hóa, giờ đây ông lại trải qua cú sốc đạo đức ở Cô-rinh-tô. Có lẽ mùi của sự ô uế trong khắp thành phố đã làm cho tâm hồn công chính của Phao-lô bị ngột ngạt, và ông trở nên chán nản.
Chúa Giê-su không nói với Phao-lô rằng những kẻ chống đối sẽ không cố gắng ngăn cản ông, mà chỉ nói rằng chúng sẽ không thành công, " vì Ta ở cùng các ngươi" Lời hứa này là nền tảng cho mệnh lệnh, " đừng sợ hãi, hãy tiếp tục rao giảng" Khi Chúa đã lên tiếng, thì điều đó đã được đảm bảo. Lời hứa nhấn mạnh ba điều: Sự hiện diện của Chúa Giê-su, lòng thương xót của Ngài và sự hợp tác của Chúa trong công tác Truyền giảng.
Chúa cũng ra lệnh cho Phao lô: " Hãy nói và đừng im lặng, vì Ta còn có nhiều người trong thành phố nầy !"
Phao lô cũng như chúng ta, khi thấy một kết quả nhỏ nhoi, nhưng sự chống đối lại to lớn thì sẽ cho rằng, thành phố Cô rinh tô không phải là nơi mà hột giống Tin lành có thể gieo ra được, nhưng ngạc nhiên thay, Chúa lại bảo rằng: Ta có nhiều người ở đây!
Khi con người đi truyền giáo, giống như một công cụ, chỉ thi hành mà không biết được sẽ gặt được ai? nhưng Chúa biết, Ngài sẽ chỉ dẫn cho chúng ta đến những nơi có những linh hồn đang chờ đợi.
Do sự khích lệ từ Chúa, Phao lô đã ở lại Cô rinh tô một năm sáu tháng. Một năm rưỡi ở Cô rinh tô, dường như lâu hơn bất kỳ thành phố nào khác mà Phao lô đã trãi qua. Công việc mục vụ của Phao lô ở Cô-rinh-tô được mô tả đơn giản: Giảng dạy lời Chúa giữa họ. Thời gian Phao-lô lưu lại Cô-rinh-tô cho thấy tấm lòng của ông dành cho công việc truyền giáo. Ông không phải là một nhà truyền giáo "đến rồi đi" mà là một người tận tâm đào tạo môn đệ.
Trong thời gian Phao-lô ở Cô-rinh-tô, sự chống đối ông bắt đầu gia tăng. Những người Do Thái không tin Chúa ở thành phố đã kiện Phao-lô trước quan tổng đốc La Mã, nhưng quan tổng đốc từ chối can thiệp vào một cuộc tranh chấp tôn giáo của người Do Thái. Người Do thái tức giận, bắt chủ nhà Hội là Sốt then( Sosthenes) đánh đòn ông ta trước mặt toà án, nhưng quan làm ngơ không thèm đoái tới, y như lời Chúa đã phán với Phao lô, họ cứ chống chọi nhưng không hại được.
Phao-lô ở lại thêm một thời gian nữa rồi cuối cùng chuyển đến Ê-phê-sô. Phao-lô vẫn giữ liên lạc với hội thánh Cô-rinh-tô qua thư từ và các sứ giả, gửi cho họ những lời cảnh báo và hướng dẫn. Hai sách 1 và 2 Cô-rinh-tô chỉ là hai trong số những bức thư mà ông gửi cho họ để giải quyết các vấn đề và mối quan tâm.
Những bức thư của Phao-lô gửi cho người Cô-rinh-tô là tập hợp tác phẩm lớn nhất của ông dành cho một hội thánh cụ thể. Hai bức thư này đề cập đến những vấn đề mà vẫn thường là vấn đề trong các hội thánh ngày nay.