Công vụ 28: " Phao lô bị giải đến thành Rô ma"
" cho kẻ nầy, mùi của sự chết làm cho chết; cho kẻ kia, mùi của sự sống làm cho sống. Ai xứng đáng cho những sự nầy?" 2 Cô rinh tô 2: 16
Công vụ 28: " Phao lô bị giải đến thành Rô ma"
Câu hỏi:
1/ Sau 28 sách Công vụ, bạn có ý niệm gì về Đức Thánh Linh?
Trong toàn bộ sách Công vụ, Đức Thánh Linh làm gì?
2/ Các bạn thấy Phao Lô là người thế nào?
Ông có là một "model" cho bạn bắt chước không?
3/ Tin lành của Chúa Giê su được lan truyền cách nào?
Qua chỉ con người hay chỉ qua Chúa? Hay cần cả hai ?
"Phao lô bị giải đến Thành Rô ma"
*** Hành trình cuối cùng của Phao lô đến thành Rô ma: câu 11 -15
" Sau đó ba tháng, chúng ta xuống tàu ở A-léc-xan-tri mà đi, là tàu đã qua mùa đông tại đảo đó, và có hiệu là Đi-ốt-cua. 12 Tới thành Sy-ra-cu-sơ rồi, chúng ta ở lại đây ba ngày. 13 Từ nơi đó, chạy theo mé biển Si-si-lơ, tới thành Rê-ghi-um. Đến ngày mai, vì gió nam nổi lên, nên sau hai ngày nữa chúng ta tới thành Bu-xô-lơ. 14 Ở đó gặp anh em mời chúng ta ở lại bảy ngày; rồi thì đi đến thành Rô-ma. 15 Anh em trong thành nầy nghe nói về chúng ta, bèn ra đến Phô-rum Áp-bi-u và chỗ Ba Quán mà đón rước chúng ta. Phao-lô thấy anh em, thì cảm tạ Đức Chúa Trời và vững chí."
Trong đoạn trước, chúng ta biết con tàu bị bão đã vỡ tan, còn mọi người thì ở lại đảo Malta ba tháng lấy lại sức, chờ khi có những đoàn tàu khác tới sau mùa đông.
Tại Malta, Phao lô, Lu ca và A ri tạt đã mở một trạm y tế, vừa giúp dân trên đảo, vừa dùng cơ hội đó để làm chứng cho người ta tin Chúa. Từ đó, đạo Chúa đã đến với những người trên đảo, họ mến thương đoàn truyền giáo, nên khi ra đi, họ chuẩn bị mọi thứ cần dùng cho ba người.
Trong thời gian ở trên đảo, có một con tàu đến từ Alexandria, có ký hiệu hai anh em song sinh ở mũi tàu, cũng tới trú đông, ba người quyết định theo tàu nầy đi tới Syracuse, Syracuse là một thành phố nổi tiếng thời cổ đại và là thủ phủ của đảo Sicily.
Nghe kể lại rằng, Archimedes, nhà toán học lừng danh, từng sống tại Syracuse. Khi quân La Mã chiếm đóng hòn đảo này, một người lính đã dí dao vào cổ ông ngay lúc ông đang mải mê giải một bài toán và vẽ các hình thù trên mặt đất. Archimedes lên tiếng: "Khoan đã, anh đang làm hỏng phương trình của ta đấy!" – thế là tên lính đã giết chết ông.
Sau khi ghé qua Rhegium (Rê-ghi-um) và Puteoli (Bu-xô-lơ) thì ba người lên đường về phía Rome. Không biết vì sao trên đường từ Malta đến Rô ma, chúng ta không còn nghe Lu ca đề cập tới Thầy đội hay những người tù khác, mà chỉ nói riêng về đoàn của Phao lô mà thôi. Họ di chuyển ngược lên phía bắc dọc theo bán đảo Ý trong bảy ngày, Phao lô dành thời gian đó để gặp gỡ và giao lưu với những người cùng tin theo Chúa Giê-su.
Khi đến gần thành Rô-ma, các tín hữu ở Rô ma nghe tin về Phao lô, họ hết sức vui mừng, dành cho Phao-lô sự đón tiếp vô cùng trân trọng, bằng cách đi một đoạn đường rất xa, hơn 40 miles để chào đón đoàn truyền giáo, các tín hữu đến tận khu Ba quán trọ, trong chợ Appius để nghênh đón Phao-lô cùng các bạn đồng hành.
Chắc mọi người trong chúng ta đã đọc qua bức thư của Phao lô gởi cho các tín hữu ở Rô ma vài năm trước đó, lúc ông còn ở Cô rinh tô, đó là sách Rô ma mà chúng ta đang có. Các tín hữu ở Rô ma cũng đã đọc thư nầy, họ ao ước được gặp tác giả của bức thư, bây giờ là lúc họ được gặp người ấy, họ muốn tỏ lòng tôn kính một người thầy đã viết ra bức thư tuyệt vời đó.
Trước tình yêu thương và sự trân trọng thể hiện qua lời chào đón này, chẳng có gì ngạc nhiên khi Phao-lô tạ ơn Đức Chúa Trời và cảm thấy được khích lệ. Cuối câu 15 nói rằng, Phao-lô thấy anh em, thì cảm tạ Đức Chúa Trời và vững chí. Chúng ta có thể đoán được, Phao lô là một con người, Phao lô cũng có nhiều lo âu, cảm xúc, nhưng các anh em trong Chúa đã xoa dịu được nỗi lòng của ông, trước mắt Phao lô, làm cho người khác vui mừng là sự an ủi lớn.
Lu-ca hoàn toàn không có ý cho rằng Phao-lô là người đầu tiên mang Tin Lành đến Rô-ma. Sự hiện diện của những Cơ Đốc nhân ở đó mà Lu ca gọi là anh em, là bằng chứng cho thấy Tin Lành đã đến được Rô-ma từ trước đó rồi. Đã có những người Do Thái đến từ Rô-ma có mặt, khi Phi-e-rơ giảng đạo vào ngày Lễ Ngũ Tuần nhiều năm về trước (Công vụ các Sứ đồ 2:10), vì vậy mới có một cộng đồng Cơ Đốc nhân sống tại Rô-ma ngay từ buổi ban đầu.
*** Phao lô bị giam lõng, nhưng cũng không bỏ các nhà hội Do Thái: câu 16 -20
" Khi chúng ta đã đến thành Rô-ma, Phao-lô được phép ở riêng với một người lính canh giữ. 17 Sau ba ngày, người mời các trưởng lão trong dân Giu-đa nhóm lại; đến rồi, người nói rằng: Hỡi anh em ta, dẫu tôi chẳng từng làm điều gì nghịch cùng dân chúng hoặc cùng thói tục tổ phụ chúng ta, mà tôi còn bị bắt tại thành Giê-ru-sa-lem và nộp trong tay người Rô-ma. 18 Những người nầy đã xét việc tôi rồi, thì muốn tha ra, vì tôi chẳng hề làm điều gì đáng chết. 19 Song người Giu-đa chống cự điều đó, nên buộc tôi kêu nài đến Sê-sa, nhưng chẳng phải có ý kiện bổn quốc ta đâu. 20 Ấy vì cớ đó mà tôi đã xin gặp anh em và nói chuyện với, vì là bởi sự trông cậy của dân Y-sơ-ra-ên nên tôi mang lấy xiềng nầy."
Cuối cùng, lời hứa của Chúa Giê su đã được ứng nghiệm, ngay ở phần cuối sách Công vụ, Phao lô đã tới thành Rô ma để làm chứng.
Khi Phao-lô đến Rô-ma, thành phố này đã tồn tại được gần 800 năm. Đấu trường Colosseum nổi tiếng vẫn chưa được xây dựng, tuy nhiên, những công trình kiến trúc vĩ đại khác đã có, bao gồm đền thờ thần Jupiter, cung điện của Caesar và đền thờ thần Mars (thần chiến tranh). Vào thời điểm đó, dân số Rô ma khoảng hai triệu người, bao gồm một triệu nô lệ và một triệu người tự do. Xã hội được chia thành ba tầng lớp chính: tầng lớp thượng lưu (số lượng ít), tầng lớp người nghèo (số lượng đông đảo) và tầng lớp nô lệ.
Ở Rô ma, Phao-lô không bị giam trong một nhà tù thông thường. Ông được phép sống riêng và tự lo liệu chỗ ở, câu 30 nói đó là một ngôi nhà trọ. Tuy vậy, ông luôn chịu sự giám sát của một lính canh La Mã, có thể Phao lô bị xiềng với những người lính canh thay phiên nầy. Trong thư Phi líp đoạn 1: 12 -14 Phao lô kể rằng:
" Hỡi anh em, tôi muốn anh em biết rằng điều xảy đến cho tôi đã giúp thêm sự tấn tới cho đạo Tin Lành, 13 đến nỗi chốn công đường và các nơi khác đều rõ tôi vì Đấng Christ mà chịu xiềng xích. 14 Phần nhiều trong anh em nhân tôi bị xiềng xích mà có lòng tin rất lớn trong Đấng Christ, dám truyền đạo Đức Chúa Trời chẳng sợ hãi gì. "
Có lẽ, lúc nầy là lúc Phao lô buồn khổ, ông cho rằng cái chết đến với ông vẫn tốt, nhưng khi còn sống, ông còn có thể giúp để nói về Tin lành, Phao lô tiếp tục nói trong thư Phi líp:
" Tôi bị ép giữa hai bề muốn đi ở với Đấng Christ, là điều rất tốt hơn; 24 nhưng tôi cứ ở trong xác thịt, ấy là sự cần hơn cho anh em."
Như chúng ta đã biết, mặc dù bị dân Do Thái chống đối, bày bác, mưu hại, nhưng trái tim của Phao lô vẫn cưu mang họ, mới tới Rô ma có ba ngày, Phao lô đã triệu tập các trưởng lão của các nhà hội Do Thái để làm chứng cho họ, Phao-lô muốn họ biết rằng ông không hề chối bỏ dân Y-sơ-ra-ên và họ vẫn là anh em của ông.
Như ông từng giải thích với đám đông "Tôi thật là một người Do Thái" ông muốn họ biết rằng ông vô tội trước bất kỳ cáo buộc nào về việc vi phạm luật pháp hay gây hại cho dân tộc Do Thái, ông không đưa ra lời buộc tội hay phản bác nào chống lại giới lãnh đạo Do Thái đã buộc tội ông. Phao-lô nói ông bị giam cầm vì niềm tin của ông vào Đấng Mê-si của Y-sơ-ra-ên, niềm hy vọng mà nhiều người Giu đa đã từ chối.
*** Phản ứng của những người lãnh đạo Do Thái tại Rô ma: câu 21 & 24
" Các người ấy trả lời rằng: Chúng tôi chẳng tiếp thơ từ xứ Giu-đê nói về việc anh, và chẳng ai trong anh em đã đến mách cho chúng tôi hay là nói xấu về anh nữa. 22 Dầu vậy, chúng tôi muốn biết anh nghĩ làm sao; vì về phần đạo nầy, chúng tôi biết người ta hay chống nghịch khắp mọi nơi. Họ đã hẹn ngày với người, bèn đến thăm tại nơi nhà trọ rất đông; từ buổi sáng đến chiều, người cứ làm chứng và giảng giải với họ về nước Đức Chúa Trời, lấy luật pháp Môi-se và các đấng tiên tri mà gắng sức khuyên bảo họ về Đức Chúa Jêsus. 24 Có người chịu tin lời người nói, có kẻ chẳng tin."
Qua câu trả lời của các Trưởng lão Do Thái tại Rô ma, họ không nhận được thư từ Giê ru sa lem nói về Phao lô, cũng không nghe ai nói xấu gì, điều này cho thấy các nhà lãnh đạo tôn giáo từng cáo buộc Phao-lô tại Giê-ru-sa-lem đã không hề gửi trước các văn bản để củng cố cáo buộc chống lại Phao lô, vì họ không nêu được bằng cớ. Cộng đồng người Do Thái tại Rô-ma vẫn chưa nghe bất cứ điều gì về Phao-lô.
Điều mà khiến họ suy nghĩ là Phao lô đã rao truyền một đạo mà người ta chống lại ở khắp mọi nơi mà thôi. Bây giờ họ muốn nghe chính miệng Phao lô nói về đạo đó.
Việc Phao lô có mặt ở Rô ma là một sự kiện mà những người Do Thái muốn tìm hiểu cho rõ ngọn nguồn, vì thế họ tụ lại nhà trọ rất đông, Phao lô giải thích và làm chứng về vương quốc Đức Chúa Trời, thuyết phục họ về Chúa Giê-xu dựa trên cả Luật pháp Môi-se lẫn các sách Tiên tri, từ sáng đến chiều tối, nhưng phần lớn người Do Thái thời Chúa Giê-xu và thời Phao-lô đều mong đợi một vương quốc mang tính chính trị, chứ không phải một vương quốc thuộc linh, nên có người tin và cũng có người không tin. Sự cứng cỏi của họ làm cho lòng họ không thể mở ra, dù họ đang được nghe bài giảng hay nhất từ vị sứ đồ xuất sắc nhất trong hoàn cảnh thuận lợi nhất, họ vẫn không chịu tin.
*** Phao lô thất vọng với người Giu đa, đem thời gian còn lại giảng Tin lành cho người ngoại: câu 25 - 31
" Bởi chưng họ không đồng ý với nhau và ra về, nên Phao-lô chỉ nói thêm một lời nầy: Đức Thánh Linh đã phán phải lắm, khi Ngài dùng đấng tiên tri Ê-sai mà phán cùng tổ phụ các ngươi rằng: 26 Hãy đến nơi dân nầy và nói rằng: Các ngươi lấy lỗ tai nghe mà chẳng hiểu chi; Lấy mắt xem mà không thấy gì. 27 Vì lòng dân nầy đã nặng nề; Họ bịt lỗ tai, Nhắm mắt lại, E rằng mắt mình tự thấy, Tai mình tự nghe, Lòng mình tự hiểu, Và họ trở lại Mà ta chữa cho lành được chăng. 28 Vậy, hãy biết sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời nầy đã sai đến cho người ngoại; những người đó sẽ nghe theo vậy. 29 [Khi người nói xong, thì các ngươi Giu-đa đi ra, cãi lẫy cùng nhau dữ lắm.] 30 Phao-lô ở trọn hai năm tại một nhà trọ đã thuê. Người tiếp rước mọi người đến thăm mình, 31 giảng về nước Đức Chúa Trời, và dạy dỗ về Đức Chúa Jêsus Christ cách tự do trọn vẹn,chẳng ai ngăn cấm người hết."
Sau khi nghe Phao lô giải bày, những người tin và không tin cãi lẫy với nhau. Khi họ rời đi, Phao-lô nói một câu: “Đức Thánh Linh đã phán rất đúng qua tiên tri Ê-sai với tổ phụ chúng ta.” đó là lời tiên tri về sự cứng lòng của họ. Chắc chắn Phao-lô vui mừng khi thấy có người tiếp nhận Tin Lành, nhưng ông hẳn cũng đau lòng nếu có dù chỉ một người trong số họ khước từ Chúa Giê-xu. Ê sai 6: 9 & 10
" Ngài phán: Đi đi! nói với dân nầy rằng: Các ngươi hãy nghe, nhưng chẳng hiểu chi; hãy xem, nhưng chẳng thấy chi. 10 Hãy làm cho dân ấy béo lòng, nặng tai, nhắm mắt, e rằng mắt nó thấy được, tai nó nghe được, lòng nó hiểu được, nó trở lại và được chữa lành chăng!"
Câu nầy ý nói, nếu khước từ Chúa Giê-xu, các ngươi có thể nghe nhưng chẳng bao giờ hiểu; có thể thấy nhưng chẳng bao giờ nhận biết. Lòng các ngươi vốn đã và sẽ mãi chai cứng, tai thì bịt lại và mắt thì nhắm nghiền, bởi vì thực sự các ngươi không muốn quay về cùng Đức Chúa Trời để được chữa lành khỏi tội lỗi.
Nếu một số người khước từ sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, thì điều đó không làm cho sự cứu rỗi ấy mất đi hiệu lực. Điều đó chỉ có nghĩa là Đức Chúa Trời sẽ tìm đến những ai chịu lắng nghe, trong trường hợp này Phao lô muốn nói tới dân ngoại.
Người rao giảng Tin Lành thực chất đang truyền tải hai thông điệp. Đối với những ai đáp ứng Tin Lành bằng đức tin, ông ta là sứ giả mang lại sự sống. Nhưng đối với những ai khước từ Chúa Giê-xu, người rao giảng lại góp phần làm gia tăng sự đoán phạt dành cho họ 2 Cô-rinh-tô 2:16 nói rằng:
" Vì chúng tôi ở trước mặt Đức Chúa Trời là mùi thơm của Đấng Christ, ở giữa kẻ được cứu, và ở giữa kẻ bị hư mất; 16 cho kẻ nầy, mùi của sự chết làm cho chết; cho kẻ kia, mùi của sự sống làm cho sống. Ai xứng đáng cho những sự nầy?"
Phao lô đã ở Rô ma trong xiềng xích đến hai năm, để có tiền trang trãi cho nhà trọ, có lẽ Phao lô phải làm việc để kiếm tiền trang trãi mọi thứ, mặc dù không thể đi lại tự do, Phao-lô vẫn có thể dạy dỗ và rao giảng cho bất cứ ai tìm đến mình, ông đã thực hiện được điều đó. Phao lô cũng viết nhiều lá thư; chính nhờ quãng thời gian hai năm bị quản thúc tại Rô-ma này mà chúng ta có được các bức thư gửi cho tín hữu tại Ê-phê-sô, Phi-líp và Cô-lô-se.
Hai năm Phao lô ở Rô ma không hề vô ích, Đức Chúa Trời không để thời gian của Phao-lô tại Rô-ma trôi qua một cách lãng phí, mặc dù chính chúng ta có thể lãng phí nó khi không nhận ra mục đích của Ngài dành cho cuộc đời mình ở thời điểm hiện tại.
Cuối sách Công vụ không nói thêm gì sau hai năm nầy, nhưng căn cứ vào những tài liệu khác, người ta biết rằng, cuối cùng Phao lô được đứng trước mặt hoàng đế Nê rô, rất có thể phao lô được tha ra trong khoảng bốn năm, sau đó, ông bị bắt lại, cùng lúc với cao trào các tín hữu ở Rô ma bị hàng đế sát hại, Phao lô bị tống giam lần nữa, bị kết án và hành quyết tại Rô-ma theo lệnh của Nê-rô vào năm 66 hoặc 67 SCN – đúng như các truyền thống lịch sử của Hội Thánh sơ khai đã ghi lại.
Phao lô, một cuộc đời tận hiến cho Tin lành, cho người Giu đa và nhất là cho người ngoại. Một tấm gương trong sáng, can đảm, chịu khổ trong mọi thử thách, dùng mọi cơ hội để rao giảng Tin lành.