Rô ma 10: " Dân Giu đa từ chối Đấng Christ"

**Dân Tộc Việt **Các Phương Tiện zoom

" Công việc của Hòn Đá là trọn vẹn; Vì các đường lối Ngài là công bình. Ấy là Đức Chúa Trời thành tín và vô tội; Ngài là công bình và chánh trực." Phục truyền 32: 4

Rô ma 10: " Dân Giu đa từ chối Đấng Christ"

 

Đọc Rô ma 10

 

Câu hỏi:

 

1/ Hòn đá vấp ngã mà Kinh thánh đề cập là biểu tượng của ai?
Tại sao dân Y sơ ra ên vấp ngã vì hòn đá nầy? Hai chữ giập nát có ý nghĩa nhẹ nhàng không?

 

2/ Hai điều phải xưng nhận nơi người tin là gì? Tại sao Phao lô nói hai điều đó ở rất gần?
Nhưng có dễ làm không? Tại sao khó đối với dân Giu đa, và ngay cả đối với người ngoại?

 

3/ Phần lớn dân Y sơ ra ên không chấp nhận Tin lành có làm ngạc nhiên Đức Chúa Trời không?
Họ có thể nêu ra lý do gì để biện minh khi họ từ chối Đấng Christ không?



        "Dân Giu đa từ chối Đấng Christ"


*** Dân Y sơ ra ên không nhận lấy sự công bình ban cho từ Đức Chúa Trời: câu 1 -3


" Hỡi anh em, sự ước ao trong lòng tôi và lời tôi vì dân Y-sơ-ra-ên cầu nguyện cùng Đức Chúa Trời, ấy là cho họ được cứu. 2 Vì tôi làm chứng cho họ rằng họ có lòng sốt sắng về Đức Chúa Trời, nhưng lòng sốt sắng đó là không phải theo trí khôn. 3 Bởi họ không nhận biết sự công bình của Đức Chúa Trời và tìm cách lập sự công bình riêng của mình, nên không chịu phục sự công bình của Đức Chúa Trời;"



  Phao lô là một sứ giả của Tin lành, ông đã đi rất nhiều nơi, rao giảng nhiều xứ, rất thành công với người ngoại, nhưng thường thất bại trước dân Y sơ ra ên, vì sao họ lại quá cứng lòng để không tin được một Tin lành được Chúa ban cho cách nhưng không?

Cuối đoạn 9 Phao lô nhắc đến hòn đá vấp ngã, hòn đá mà hơn 700 năm trước Ê sai có nói tiên tri trong sách Ê sai 8: 14 & 15

" Ngài sẽ là nơi thánh, nhưng cũng là hòn đá vấp ngã, vầng đó vướng mắc cho cả hai nhà Y-sơ-ra-ên, và là bẫy cùng lưới cho dân cư thành Giê-ru-sa-lem vậy. 15 Nhiều người trong bọn họ sẽ vấp chân; sẽ té và giập nát; sẽ sa vào lưới và bị bắt."

Hòn đá đó là gì? Hòn đá vấp ngã là hình ảnh ẩn dụ về Chúa Giê-su, Đấng vừa là nguồn cứu rỗi cho những người tin, vừa là điều gây vấp phạm cho kẻ chẳng tin, là nguyên nhân dẫn đến sự hủy diệt đối với những ai khước từ Ngài.


   Dân Y sơ ra ên đã quen việc cố gắng đạt được sự cứu rỗi thông qua sự tuân giữ nghiêm ngặt luật pháp, họ không tin rằng chính Đức Chúa Trời sẽ xưng công chính cho những kẻ chỉ tin nơi sự cứu chuộc của Chúa Giê su mà được. Hơn thế nữa, họ cũng chẳng tin được Chúa Giê su là Đấng Mê si, là con Đức Chúa Trời mà Kinh thánh đã loan báo, cho nên, điều quá dễ cho dân ngoại lại trở thành quá khó đối với dân Do Thái.


Do đó, Phao lô cảm thấy trong lòng mình có sự thôi thúc, phải bày tỏ điều đó ra vì họ đồng bào Do Thái của ông. Phao-lô không hề vui mừng khi thấy họ vấp ngã nơi hòn đá ấy, Phao lô đã cầu nguyện cùng Đức Chúa Trời cho dân Y-sơ-ra-ên.
Phao-lô công nhận rằng dân Y-sơ-ra-ên đã có lòng sốt sắng vì Đức Chúa Trời, nhưng đó là sự sốt sắng thiếu sự hiểu biết. Phao lô hiểu rõ hơn ai hết về sai lầm nầy. Trước khi gặp gở Chúa Giê su trên đường Đa mách, Phao lô cũng là người sốt sắng vì đạo, nhưng không phải là ý Chúa.
Người Y sơ ra ên đã tự thiết lập sự công chính cho mình, họ không chịu phục tùng sự công chính của Đức Chúa Trời: Dân Y-sơ-ra-ên thiếu sự hiểu biết, dẫn đến sự không vâng phục Đức Chúa Trời.


Khi một người đến với Chúa Giê su, họ cần biết Tin lành cứu rỗi của Chúa là gì, biết vẫn chưa đủ, họ phải thuận phục để đón nhận sự công chính của Đức Chúa Trời, từ bỏ sự công chính của chính mình, vì chẳng có ai làm trọn được sự công chính trước mặt Đức Chúa Trời.

*** Sự tương phản giữa công chính của Đức Chúa Trời và nỗ lực để đạt được sự công chính của chúng ta: câu 4 - 10

"vì Đấng Christ là sự cuối cùng của luật pháp, đặng xưng mọi kẻ tin là công bình. 5 Vả, Môi-se luận sự công bình đến bởi luật pháp cách nầy: Hễ ai làm theo điều đó thì nhờ đó mà sống. 6 Nhưng sự công bình đến bởi đức tin, thì nói như vầy: Chớ nói trong lòng ngươi rằng: Ai sẽ lên trời? ấy là để đem Đấng Christ xuống; 7 hay là: Ai sẽ xuống vực sâu? ấy là để đem Đấng Christ từ trong kẻ chết lại lên. 8 Nhưng nói làm sao? Đạo ở gần ngươi, ở trong miệng và trong lòng ngươi. Ấy là đạo đức tin mà chúng ta giảng dạy. 9 Vậy nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Jêsus ra và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, thì ngươi sẽ được cứu; 10 vì tin bởi trong lòng mà được sự công bình, còn bởi miệng làm chứng mà được sự cứu rỗi."

Đấng Christ là sự kết thúc của luật pháp:


  Chúa Giê-xu là sự kết thúc của luật pháp đối với những ai tin Ngài. Luật pháp chấm dứt vai trò của nó đối với người tin Chúa, là một cơ đốc nhân, luật pháp không còn là nền tảng cho mối tương giao giữa chúng ta với Đức Chúa Trời. Luật pháp vẫn phản ánh những điều răn tốt đẹp của Chúa, nhưng luật pháp không thể giúp chúng ta làm con cái Đức Chúa Trời. Chúa Giê su mới là Đấng đứng giữa Đức Chúa Trời và con người.

Đấng Christ không đến để làm cho luật pháp trở nên nhẹ nhàng hơn, hay để biến sự khiếm khuyết của chúng ta đối với luật pháp thành điều có thể được chấp nhận được. Luật pháp không buộc phải hạ thấp các yêu cầu của mình, luật pháp vốn thánh khiết, công chính và tốt lành, và không được phép thay đổi dù chỉ một nét nhỏ nhất, cũng như không thể thay đổi được. Chúa chúng ta đáp ứng trọn vẹn mọi đòi hỏi của luật pháp chứ không phải chỉ một phần, vì làm vậy chẳng khác nào thừa nhận rằng ngay từ đầu luật pháp lẽ ra đã có thể chấp nhận một tiêu chuẩn thấp hơn mà vẫn công chính.

Luật pháp Môi-se vạch ra con đường dẫn đến sự công chính thông qua nó một cách rõ ràng. Nếu bạn muốn sống nhờ luật pháp, tìm kiếm sự sống thông qua luật pháp, bạn phải thực hành luật pháp và phải thực hành một cách trọn vẹn, hoàn hảo. Nhưng ai có thể giữ luật pháp được theo cách đó?
Còn Tin Lành cứu rỗi của Chúa Giê su thì sao?


 Phao lô nói rất đơn giản, người ta không cần lên Trời để đem Đấng Christ xuống trần gian, Ngài đã tự mình hạ xuống làm người để hy sinh thế tội rồi, Sau khi Chúa chết và chôn, chúng ta cũng không cần tìm Ngài nơi âm phủ, Ngài đã sống lại vì Đức Chúa Trời làm cho Ngài sống lại.

  Người tin vào sự cứu rỗi chỉ cần miệng xưng Đức Chúa Jêsus ra và trong lòng người ấy tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, thì sẽ được cứu.

 Lời ấy ở rất gần, thay vì phải nhọc công tìm kiếm sự công chính qua luật pháp, người ta có thể lập tức nhận được sự công chính bởi đức tin, nhờ tin cậy vào Lời của Tin Lành.


Xưng nhận bằng miệng:
  Sự xưng nhận mang ý nghĩa là đồng ý hay công nhận, chúng ta đồng ý với những gì Đức Chúa Trời đã phán về Ngài, và với những gì chính Ngài đã nói về bản thân mình.

  Chúng ta công nhận Chúa Giê-xu là Đức Chúa Trời, là Đấng Mê-si, và công việc của Ngài trên thập tự giá là con đường duy nhất dẫn đến sự cứu rỗi cho nhân loại.


Xưng Chúa Giê-xu là Chúa:
Chúng ta không nên quên ý nghĩa của việc xưng nhận Giê-xu Christ là Chúa. Nếu một người gọi Chúa Giê-xu là Chúa/Chủ (kurios *), người ấy đang đặt Ngài ngang hàng với Đức Chúa Trời; người ấy đang dành cho Ngài vị trí tối thượng trong cuộc đời mình; và người ấy đang cam kết vâng phục tuyệt đối cũng như tôn thờ Ngài với lòng kính sợ.


Việc xưng nhận nầy có dễ làm không? Dễ khi người ta tin, không dễ khi người ta không tin.

Học giả Robertson viết về việc xưng nhận "Chúa Giê-xu là Chúa" (Jesus Christ is Lord), rằng:


“Không một người Do Thái nào lại làm điều này, nếu họ chưa thực sự tin cậy Đấng Christ, bởi vì trong bản Bảy Mươi (LXX), từ *Kurios* được dùng để chỉ Đức Chúa Trời. Từ *Kurios* đã và đang là thước đo của đức tin.”

Tin trong lòng rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài sống lại từ cõi chết:


Người ta cũng phải tin Đức Chúa Trời làm cho Chúa Giê su sống lại. Có câu hỏi thắc mắc tại sao Phao-lô không đề cập đến việc Chúa bị đóng đinh, trước khi nói Ngài được sống lại?

 Khi Phao-lô nhấn mạnh việc Đức Chúa Trời đã khiến Chúa Giê su sống lại từ cõi chết, thì đức tin ấy bao hàm cả công việc của Chúa Giê-xu trên thập tự giá. Đồng ý theo các sự kiện chưa đủ, người ấy phải có đức tin vững chắc trong lòng.

Nói tóm lại, Phao lô muốn nói đến một thứ đức tin vững vàng, công khai và có hiểu biết. Hai điều tin và xưng nhận kết hợp lại mang đến sự công chính và sự cứu rỗi.

*** Sự cứu rỗi dành cho dân Y sơ ra ên cũng như dân Ngoại: câu 11 - 13

" Vả, Kinh-Thánh nói rằng: Kẻ nào tin Ngài sẽ chẳng bị hổ thẹn. 12 Trong người Giu-đa và người Gờ-réc không có sự phân biệt gì hết, vì họ có chung một Chúa, giàu ơn đối với mọi kẻ kêu xin Ngài. 13 Vì ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu."

 

Chúng ta không nên xem thường sự đơn giản rằng:

                                       "Ai kêu cầu danh Chúa sẽ được cứu"

Thực tế, bên trong đức tin nầy có sự thách thức mọi nỗ lực của xác thịt nhằm tự xưng công bình, của cả người ngoại (Gờ réc) lẫn người Giu đa.
Người ngoại muốn thờ lạy, cúng kiến, làm những việc công đức, tu thân luyện tánh để được cứu rỗi.
Người Giu đa dùng luật pháp để được xưng công chính và miệng cũng không xưng được Chúa Giê su là Đức Chúa Trời.

 

Cả người Do Thái lẫn người Hy Lạp đều có khuynh hướng đề cao nguồn gốc quốc gia hay sắc tộc, như thể việc được cứu rỗi có chọn lựa theo một tiêu chuẩn của con người.

 Nhưng Phao-lô khẳng định rõ ràng, không có sự phân biệt nào giữa người Do Thái và người Hy Lạp, vì cùng một Chúa là Chúa của mọi người, Ngài ban ơn dư dật cho tất cả những ai kêu cầu Ngài. Kinh Thánh thường khẳng định rằng những người tin Chúa sẽ không phải chịu hổ thẹn.
Ân điển được ban ra, nhưng phải tin nhận thì mới có. Sự cứu rỗi không đòi hỏi công sức hay sắc tộc, nhưng đòi hỏi sự đáp ứng.

*** Sự cần thiết của việc rao giảng Tin lành: câu 14 - 15


" Nhưng họ chưa tin Ngài thì kêu cầu sao được? Chưa nghe nói về Ngài thì làm thể nào mà tin? Nếu chẳng ai rao giảng, thì nghe làm sao? 15 Lại nếu chẳng ai được sai đi, thì rao giảng thể nào? như có chép rằng: Những bàn chân kẻ rao truyền tin Lành là tốt đẹp biết bao!"

Là một người đi rao giảng Tin lành, Phao lô luôn tâm niệm hai câu hỏi:


" Nếu chẳng ai rao giảng thì làm sao người ta nghe được Tin lành, và nếu chưa nghe Tin lành thì tin thể nào?"

  Đời xưa và đời nay câu hỏi nầy đều có tác dụng, rằng những người rao giảng Tin lành cần được sai đi. Đức Chúa Trời có nhiều phương cách để truyền tải những thông tin, nhưng từ xưa, Ngài đã dùng con người tiếp cận với con người để truyền đi sứ điệp của Chúa. Sách Ê sai 52: 6 & 7 chép:


" Vậy nên dân ta sẽ biết danh ta; thật, trong ngày đó, nó sẽ biết rằng chính ta là Đấng phán rằng: Nầy, ta đây! 7 Những kẻ đem tin tốt, rao sự bình an, đem tin tốt về phước lành, rao sự cứu chuộc, bảo Si-ôn rằng: Đức Chúa Trời ngươi trị vì, chân của những kẻ ấy trên các núi xinh đẹp là dường nào!"

Vì sao Chúa nói: Những người rao giảng lại có bước chân đẹp đẽ? Họ đang cộng tác với Đức Chúa Trời vì sự cứu rỗi của nhân loại.


Bước chân tượng trưng cho hành động và sự tiến bước. Những ai tích cực hành động, dấn thân vào công việc rao giảng Tin Lành, chính là những người có bước chân đẹp đẽ. Thông điệp mà tiên tri Ê-sai đã nói trong phân đoạn đó là một Tin lành về những điều tốt đẹp, là Sự cứu rỗi được ban cho qua danh Chúa.

*** Lời tiên tri về việc dân Y sơ ra ên từ chối Tin lành: câu 16 - 21

" Nhưng chẳng phải mọi người đều nghe theo tin lành đâu; vì Ê-sai có nói rằng: Lạy Chúa, ai tin lời chúng tôi rao giảng? 17 Như vậy, đức tin đến bởi sự người ta nghe, mà người ta nghe, là khi lời của Đấng Christ được rao giảng. 18 Nhưng tôi hỏi: Có phải là họ chưa nghe chăng? Trái lại, Tiếng của các sứ giả đã vang khắp đất, Và lời của sứ giả đã đạt đến cùng thế gian. 19 Tôi lại hỏi: Thế mà dân Y-sơ-ra-ên chẳng biết chi hết sao? Môi-se đã nói rằng: Ta sẽ giục lòng ganh tị các ngươi bởi kẻ chẳng phải là dân; Ta sẽ chọc giận các ngươi bởi một dân ngu dốt. 20 Lại Ê-sai nói cách bạo dạn rằng: Những kẻ chẳng tìm kiếm ta thì đã gặp thấy ta, Ta đã tỏ mình ra cho kẻ chẳng hỏi han ta. 21 Song về dân Y-sơ-ra-ên, thì rằng: Ta đã giơ tay ra cả ngày hướng về dân bội nghịch và hay nói trái."

Nhưng chẳng phải mọi người đều nghe theo tin lành đâu:


  Phao lô nêu ra một vấn đề trong dân Giu đa trước sự rao giảng về Tin lành: Họ không tin.


Điều nầy không phải chỉ Phao lô ghi nhận, nhưng Chúa đã nói tiên tri qua Ê sai hơn 700 năm trước: Dân Y sơ ra ên khước từ sự mời gọi của Đức Chúa Trời trong một thời gian dài, và Ngài sẽ đem Tin lành quý báu nầy ban ra cho người ngoại. Sách Ê sai 65 : 1 & 2

" Những kẻ vốn chẳng cầu hỏi ta thì đã hỏi thăm ta; những kẻ vốn chẳng tìm ta thì đã gặp được ta. Ta đã phán cùng một dân chưa kêu cầu danh ta, mà rằng: Ta đây, ta đây! 2 Ta đã giang tay ra trọn ngày hướng về một dân bội nghịch, là những kẻ đi trong đường không tốt, theo ý riêng mình"

Nếu sự cứu rỗi đơn giản đến thế, dành cho hể ai đặt lòng tin vào Chúa Giê-xu thì được cứu, tại sao dân Y-sơ-ra-ên dường như lại bị Đức Chúa Trời loại bỏ?

    Bởi vì nhiều người trong số họ đã không tin vào sứ điệp của Ngài. Họ không tin cậy lời Đức Chúa Trời được truyền qua các tiên tri, cùng những sứ giả của Tin Lành được sai đến. Do đó, họ sẽ không được cứu.


Phao lô còn cẩn thận đặt ra câu hỏi rằng:" Có phải người Giu đa chưa được nghe Tin lành chăng?" Thưa không, tất cả những sự kiện về Chúa Giê su đều xảy ra trên đất nước Giu đa, mọi người Giu đa đều biết, hơn nữa, Đức Chúa Trời đã dùng nhiều tiên tri loan báo về Đấng Mê si sẽ đến bằng chỗ nầy chỗ khác trong Kinh thánh, họ cũng từ chối. Phao lô thẳng thắn nói rằng, dù Tin lành đã đi khắp thế gian, dân Giu đa cũng vờ như không biết, Thi thiên 19 nói:

" Dây đo chúng nó bủa khắp trái đất, Và lời nói chúng nó truyền đến cực địa. Nơi chúng nó Ngài đã đóng trại cho mặt trời "

Phao lô dùng câu nầy trong Thi thiên 19 để chứng minh rằng khi sứ điệp Tin Lành được truyền ra khắp nơi, dân Y-sơ-ra-ên chắc chắn đã nghe thấy.
Điều này khiến họ phải chịu trách nhiệm nhiều hơn về việc khước từ tin lành. Đức Chúa Trời đã ban cho họ đầy đủ phương tiện để có đức tin và sự cứu rỗi nhưng họ không đáp ứng.

 Thật lạ lùng khi phần lớn dân Y-sơ-ra-ên lại khước từ Đấng Mê-si của chính mình. Dù lạ lùng, nhưng điều này cũng đã được báo trước. Nó không hề gây bất ngờ cho Đức Chúa Trời. Ngài buồn bực và nói rằng Ngài đã chờ đợi, giơ tay cả ngày với một dân bội nghịch và ngang bướng. Trong khi dân ngoại hoan hỉ nhận lấy Tin lành, xưng Ngài là " Đức Chúa Trời Tôi"