Rôma 2:"Sự đoán xét của Đức Chúa Trời luôn hiệp với Lẽ thật"
"Nếu người công bình xây bỏ sự công bình của mình mà phạm sự gian ác, thì nó sẽ chết trong đó. 19 Nếu kẻ dữ xây bỏ sự dữ của mình mà làm theo luật pháp và hiệp với lẽ thật, ấy là bởi cớ đó mà nó sẽ sống." Ê xê chiên 33: 18 & 19
Rô ma 2: " Sự đoán xét của Đức Chúa Trời luôn hiệp với Lẽ thật"
Câu hỏi:
1/ Tại sao Dân Ngoại không có luật pháp mà vẫn bị xét đoán?
Theo tiêu chuẩn đó, có người ngoại nào thoát được không?
2/ Tại sao Dân Giu đa có luật pháp mà vẫn bị xét đoán?
Có ai trong Dân Giu đa có thể xưng mình đã làm trọn luật pháp không?
3/ Luật pháp được ban cho dân Giu đa, cũng như phép cắt bì, có giúp họ xưng công nghĩa không?
Đức Chúa Trời có thiên vị họ trong khi xét đoán như cách họ nghĩ không?
" Sự đoán xét của Đức Chúa Trời luôn hiệp với Lẽ thật"
*** Bản cáo trạng nhắm vào người tự cho mình đạo đức: câu 1 -3
" Vậy hỡi người kia, ngươi là ai mặc lòng, hễ đoán xét kẻ khác thì không thể chữa mình được; vì trong khi đoán xét họ, ngươi cũng lên án cho chính mình ngươi nữa, bởi ngươi đoán xét họ, mà cũng làm các việc như họ. 2 Vả, Chúng ta biết rằng sự phán xét của Đức Chúa Trời đối với kẻ làm những việc như thế, là hiệp với lẽ thật. 3 Hỡi người đoán xét kẻ phạm những việc dường ấy mà mình cũng phạm kia, vậy ngươi tưởng rằng chính mình ngươi sẽ tránh khỏi sự phán xét của Đức Chúa Trời sao?"
Trong chương 1 của thư Rô-ma, Phao-lô đã chỉ ra tội lỗi của những kẻ phạm tội tiêu biểu nhất.
Giờ đây, Phao lô đang nói đến những người nghĩ rằng mình đang sống cách đạo đức. Có lẽ, họ tự mãn vì thấy mình không giống như những hạng người được mô tả trong phân đoạn vừa rồi.
Trước mắt người ta, người thu thuế bị khinh dễ, và người Pha ri si được tôn trọng vì có bề ngoài đạo đức. Những người được tôn trọng ấy nghĩ rằng:
"Ta khác biệt với những kẻ vô đạo đức kia."
Tư tưởng nầy cho phép những người ấy phê phán và lên án kẻ khác. Nhưng Chúa lại không muốn người ta lên án lẫn nhau, vì giữa người và người, không ai có đủ thẩm quyền đoán xét, vả lại sự đoán xét của con người không giống với sự đoán xét của Đức Chúa Trời.
Hãy xem trong Ma thi ơ 7: 1 -5 Chúa Giê su dạy rằng:
" Các ngươi đừng đoán xét ai, để mình khỏi bị đoán xét. 2 Vì các ngươi đoán xét người ta thể nào, thì họ cũng đoán xét lại thể ấy; các ngươi lường cho người ta mực nào, thì họ cũng lường lại cho mực ấy. 3 Sao ngươi dòm thấy cái rác trong mắt anh em ngươi, mà chẳng thấy cây đà trong mắt mình? 4 Sao ngươi dám nói với anh em rằng: Để tôi lấy cái rác ra khỏi mắt anh, mà chính ngươi có cây đà trong mắt mình? 5 Hỡi kẻ giả hình! trước hết phải lấy cây đà khỏi mắt mình đi, rồi mới thấy rõ mà lấy cái rác ra khỏi mắt anh em mình được."
Ở đây, Phao lô nhắc lại lần nữa: "Trong bất cứ điều gì bạn xét đoán người khác, bạn tự kết án chính mình."
Phao lô muốn người ta lưu ý rằng, người tự cho mình là đạo đức, luôn kết án và phán xét người khác, trong khi chính họ cũng phạm tội, có thể tội ấy không giống hệt như người kia, nhưng đứng trước tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời, họ cũng sẽ bị lên án. Họ có thể hỏi: " Tôi phạm tội ở đâu?"
Điều nầy khiến họ trở nên kiêu hãnh, không nhìn ra mình có tội gì trước mắt Chúa, và cũng không ăn năn. Những người tiêu biểu nhất cho hàng ngũ nầy là những thầy thông giáo Pha ri si, Chúa Giê su quở trách họ giả hình, và còn nặng hơn là giống mồ mã tô vôi. Bề ngoài đạo mạo, nhưng bề trong gian dối và độc ác thì cũng phạm tội như nguời kia.
*** Đức Chúa Trời cũng lên án kẻ tự cho mình đạo đức: câu 4 & 5
" Hay là ngươi khinh dể sự dư dật của lòng nhân từ, nhịn nhục, khoan dung Ngài, mà không nhận biết lòng nhân từ của Đức Chúa Trời đem ngươi đến sự ăn năn sao? 5 Bởi lòng ngươi cứng cỏi, không ăn năn, thì tự chấp chứa cho mình sự giận về ngày thạnh nộ, khi sẽ hiện ra sự phán xét công bình của Đức Chúa Trời,"
Phao-lô chỉ ra rằng người tự cho mình là đạo đức, đang lạm dụng lòng nhân từ, sự khoan dung và sự kiên nhẫn của Đức Chúa Trời. Những điều dạy dỗ của Ngài, lẽ ra phải dẫn dắt họ đến sự ăn năn trong tinh thần khiêm nhường, xét mình, thay vì có thái độ tự cho mình là hơn người.
Lòng nhân từ có thể được xem là sự tốt lành của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta, liên quan đến những tội lỗi trong quá khứ. Ngài vẫn đối xử tốt với chúng ta vì Ngài chưa phán xét chúng ta, mặc dù chúng ta đáng phải chịu sự phán xét đó.
Sự khoan dung của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta liên quan đến những tội lỗi ở hiện tại. Chúng ta đã không đạt được tiêu chuẩn thánh khiết của Ngài, nhưng Ngài vẫn kìm lại sự phán xét đối với chúng ta.
Tính nhẫn nhục của Chúa thật dài lâu, chờ đợi tội nhân ăn năn trở về.
Bao nhiêu đó chỉ để nán lại hình phạt, thì tại sao các người không nhận ra mà ăn năn, thống hối?
Ba đức tính của Đức Chúa Trời bày tỏ lòng thương xót, vì tình yêu của Ngài đối với tội nhân. Thật là một sai lầm lớn nếu ta lợi dụng ân điển của Ngài và lầm tưởng rằng mình xứng đáng được hưởng điều đó.
Con người cần nhìn thấy lòng nhân từ của Đức Chúa Trời và hiểu rằng: Đức Chúa Trời đã đối đãi với họ tốt hơn mức họ xứng đáng được hưởng.
Chính vì xem thường sự phán xét của Đức Chúa Trời, nên Phao lô nói, người tự cho mình là đạo đức kia đang tích trữ cơn thịnh nộ của Ngài.
Cơn thịnh nộ sẽ nổ ra trong ngày thịnh nộ, đó là ngày mà Chúa trở lại để thực hiện sự phán xét.
***Đức Chúa Trời sẽ kết án mọi người không tuân theo lẽ thật: câu 6 -10
" là Đấng sẽ trả lại cho mỗi người tùy theo công việc họ làm: 7 ai bền lòng làm lành, tìm sự vinh hiển, sự tôn trọng và sự chẳng hề chết, thì báo cho sự sống đời đời; 8 còn ai có lòng chống trả không vâng phục lẽ thật, mà vâng phục sự không công bình, thì báo cho họ sự giận và cơn thạnh nộ. 9 Sự hoạn nạn khốn khó giáng cho mọi người làm ác, trước cho người Giu-đa, sau cho người Gờ-réc; 10 nhưng vinh hiển, tôn trọng, cùng sự bình an cho mọi người làm lành, trước cho người Giu-đa, sau cho người Gờ-réc."
Tiêu chuẩn đạo đức của Đức Chúa Trời đã được bày tỏ ra trong Lời Ngài, gọi là Lẽ thật, ai không làm theo Lẽ thật sẽ bị định tội, không phân biệt dân Chúa hay dân ngoại. Chúa báo ứng mỗi người tùy theo việc họ làm: Đây là một tư tưởng vừa vĩ đại vừa đáng sợ; nó kết án cả người tự cho mình là đạo đức lẫn kẻ phạm tội rõ ràng.
Phao lô nói rõ rằng, ai luôn luôn làm lành, luôn luôn tìm sự vinh hiển và sự tôn trọng thì được sống, còn nếu không làm theo Lẽ thật, sống không công bình thì gánh cơn thạnh nộ, nhưng ai có thể luôn làm lành và luôn tuân theo Lẽ thật? Không một ai.
Thực tế không có ai như vậy, bởi vì tất cả mọi người, theo cách này hay cách khác, đều sống ích kỷ, không công bình, và cũng không hoàn toàn vâng theo Lẽ thật.
Vì tất cả mọi người đều không đạt được tiêu chuẩn về sự thiện hảo trọn vẹn và bất biến của Đức Chúa Trời, nên cơn thịnh nộ của Ngài sẽ giáng xuống bất cứ ai làm điều ác, bất kể họ là người Do Thái hay người ngoại.
Nếu bị phán xét, người Giu Đa bị trước, người ngoại bị sau. Nếu có phần thưởng, thì Giu đa lãnh trước, người ngoại lãnh sau. Câu nói trước và sau nầy của Phao lô có chủ ý chứ không phải thuận miệng mà nói: " the Jew first and also of the Greek" được nhắc lại hai lần.
*** Người Giu đa cũng sẽ bị xét đoán y như người ngoại: câu 11 -13
" Vì trước mặt Đức Chúa Trời, chẳng vị nể ai đâu. 12 Phàm những kẻ không luật pháp mà phạm tội, cũng sẽ không luật pháp mà hư mất; còn những kẻ có luật pháp mà phạm tội, thì sẽ bị luật pháp đoán xét; 13 Vì chẳng phải kẻ nghe đọc luật pháp là người công bình trước mặt Đức Chúa Trời, bèn là kẻ làm theo luật pháp được xưng công bình vậy."
Vì Đức Chúa Trời không thiên vị ai cả:
Từ ngữ được dịch là "thiên vị" bắt nguồn từ sự kết hợp của hai từ Hy Lạp cổ, có nghĩa là "nhận" và "gương mặt". Nó mang ý nghĩa phán xét sự việc dựa trên vẻ bề ngoài hoặc những định kiến có sẵn.
Một số giáo sĩ Do Thái thời xưa từng dạy rằng Đức Chúa Trời có sự thiên vị đối với người Do Thái. Họ nói: “Đức Chúa Trời sẽ phán xét dân ngoại bằng một tiêu chuẩn khác với tiêu chuẩn dành cho người Do Thái.”
Nhưng Phao lô tuyên bố, Đức Chúa Trời không phân biệt dân Giu đa hay dân ngoại, khi phán xét, Chúa dùng cùng một tiêu chuẩn cho cả hai bên.
** Dân ngoại không có luật pháp mà phạm tội thì cũng sẽ chết.
** Dân Giu đa đại diện cho nhóm mà Phao lô gọi ở đây là: "kẻ có luật pháp", "kẻ có luật pháp" nghe không chưa đủ, nếu kẻ đó không làm theo luật pháp thì cũng chết như dân ngoại.
*** Chúa xét đoán Dân Ngoại theo lương tâm: câu 14 - 16
" Vả, dân ngoại vốn không có luật pháp, khi họ tự nhiên làm những việc luật pháp dạy biểu, thì những người ấy dầu không có luật pháp, cũng tự nên luật pháp cho mình. 15 Họ tỏ ra rằng việc mà luật pháp dạy biểu đã ghi trong lòng họ: chính lương tâm mình làm chứng cho luật pháp, còn ý tưởng mình khi thì cáo giác mình, khi thì binh vực mình. 16 Ấy là điều sẽ hiện ra trong ngày Đức Chúa Trời bởi Đức Chúa Jêsus Christ mà xét đoán những việc kín nhiệm của loài người, y theo Tin Lành tôi."
Phao-lô giải thích lý do tại sao người Dân Ngoại có thể bị kết án dù không có luật pháp. Lương tâm họ (vốn là công việc của luật pháp được ghi khắc trong lòng họ), đủ để kết án họ. Nhiều tác giả ngoại giáo thời Phao-lô đã đề cập đến "luật pháp bất thành văn" bên trong con người. Họ coi đó là điều dẫn dắt con người đi theo con đường đúng đắn. Mặc dù không được thể hiện qua các văn bản luật pháp, nhưng xét trên một số phương diện, nó còn quan trọng hơn cả luật pháp thành văn. Lương tâm được định nghĩa như sau:
" Lương tâm là ý thức đạo đức bên trong bạn. Nó giúp bạn phân biệt đúng sai, định hướng hành động và khiến bạn cảm thấy tội lỗi hoặc xấu hổ khi làm điều gì đó sai trái."
Ai đặt điều đó bên trong lòng con người? Ấy là Chúa, bởi đó, Ngài tuyên bố sẽ phán xét họ bởi lương tâm. Phao lô gọi đó là luật pháp cho chính mình.
Phao lô chỉ ra rằng, việc người Dân Ngoại viện cớ thiếu hiểu biết là vô ích, bởi chính qua hành động của mình, họ chứng tỏ rằng họ có một tiêu chuẩn nào đó về sự công chính.
Trong ngày phán xét, sự mặc khải nội tại của Đức Chúa Trời dành cho "kẻ không có luật pháp" làm chứng cho những điều người ấy đã làm.
Như thế, chắc chắn sẽ không có người nào trong Dân Ngoại được xưng công chính, tất cả sẽ chết.
***Y theo Tin Lành tôi: Có nghĩa, Tin lành mà Phao lô đang nói đến, không chỉ nói toàn ân huệ, mà là một giải pháp cứu Dân Ngoại ra khỏi tình trạng bị kết án vì lương tâm trong ngày Chúa phán xét.
*** Dân Giu đa cũng sẽ chết vì yên nghĩ và khoe khoang trên luật pháp câu 17 - 24
" Còn ngươi, mang lấy danh người Giu-đa, yên nghỉ trên luật pháp, khoe mình về Đức Chúa Trời ngươi, 18 hiểu ý muốn Ngài và biết phân biệt phải trái, vì ngươi đã được luật pháp dạy; 19 khoe mình làm người dẫn đường cho kẻ mù, làm sự sáng cho kẻ ở nơi tối tăm, 20 làm thầy kẻ ngu, làm người dạy kẻ tầm thường, trong luật pháp có mẫu mực của sự thông biết và của lẽ thật, 21 vậy ngươi dạy dỗ kẻ khác mà không dạy dỗ chính mình ngươi sao! Ngươi giảng rằng chớ nên ăn cắp, mà ngươi ăn cắp! 22 Ngươi nói rằng chớ nên phạm tội tà dâm, mà ngươi phạm tội tà dâm! Ngươi gớm ghét hình tượng mà cướp lấy đồ vật của hình tượng! 23 Ngươi khoe mình về luật pháp mà bởi phạm luật pháp làm nhục đến Đức Chúa Trời! 24 Vì bởi cớ các ngươi nên danh Đức Chúa Trời bị nói phạm trong vòng người ngoại, như lời đã chép."
Mọi niềm "tự hào" của người Do Thái trong phân đoạn này đều xoay quanh việc sở hữu Luật pháp. Người Do Thái thời Phao-lô vô cùng tự hào và tin tưởng vào việc Đức Chúa Trời đã ban luật pháp thánh khiết của Ngài cho dân tộc họ, đã khẳng định vị thế của họ là một dân tộc được tuyển chọn đặc biệt, và nhờ đó đảm bảo sự cứu rỗi cho họ.
Lẽ ra, dân Do Thái phải biết ơn khi nhận lãnh Luật pháp như một món quà từ Đức Chúa Trời, nhưng Phao-lô sẽ chỉ ra rằng việc chỉ đơn thuần sở hữu Luật pháp không thể làm cho bất kỳ ai được xưng công chính. Phao lô chỉ trích dân Giu đa một vấn đề cốt lõi là: “Ngươi có Luật pháp, nhưng ngươi có tuân giữ nó không?
Ngươi thấy người khác vi phạm Luật pháp, nhưng ngươi có thấy chính mình cũng đang vi phạm nó không?”
Phần lớn quan điểm của Do Thái giáo thời Phao-lô diễn giải Luật pháp theo cách, tưởng rằng mình hoàn toàn được xưng công chính nhờ Luật pháp. Trong Ma-thi-ơ 5:19-48, Chúa Giê-xu đã vạch trần sự sai lầm của những cách diễn giải như vậy.
Phao lô nêu ra một số sai phạm của dân Giu đa và các bậc giáo phẩm, khuyên họ chớ nên kiêu hãnh vì luật pháp, trong khi đang phạm luật pháp. Phao lô còn nhắc lại, trong cựu ước có chép, Dân Giu đa sống không theo luật pháp, làm cớ cho dân ngoại nói phạm đến danh Đức Chúa Trời.
Ê xê chiên 36 19 - 23
" Ta đã làm tan tác chúng nó trong các dân, và chúng nó đã bị rải ra trong nhiều nước; ta đã xét đoán chúng nó theo đường lối và việc làm. 20 Khi chúng nó đã tới trong các nước mà chúng nó đã đi đến, thì chúng nó đã phạm danh thánh ta, đến nỗi người ta nói về chúng nó rằng: Ấy là dân của Đức Giê-hô-va; chúng nó đã ra đi từ đất Ngài! 21 Nhưng ta tiếc danh thánh của ta mà nhà Y-sơ-ra-ên đã phạm trong các dân tộc, là nơi nhà ấy đã đi đến. 22 Vậy nên hãy nói cùng nhà Y-sơ-ra-ên rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, ấy chẳng phải vì cớ các ngươi mà ta làm cách ấy, nhưng vì cớ danh thánh ta mà các ngươi đã phạm trong các dân, là nơi các ngươi đã đi đến. 23 Ta sẽ làm nên thánh danh lớn của ta, là danh đã bị phạm trong các dân, giữa các dân đó các ngươi đã phạm danh ấy. Chúa Giê-hô-va phán: Như vậy các dân tộc sẽ biết ta là Đức Giê-hô-va, khi trước mắt chúng nó ta sẽ được tỏ ra thánh bởi các ngươi."
Người công chính trước mặt Đức Chúa Trời, là người làm theo luật pháp, nếu ai đó đã nghe luật pháp; mà không làm theo thì vô ích.
Người Do Thái, hay người mộ đạo, có thể nghĩ rằng mình được cứu rỗi vì có luật pháp; nhưng liệu họ có tuân giữ luật pháp đó không?
Người ngoại đạo có thể nghĩ rằng mình được cứu rỗi vì không có luật pháp, nhưng liệu họ có tuân theo lương tâm của mình không?
Kẻ bị kết án, không phải vì họ có luật pháp hay không có luật pháp, mà vì họ đã phạm tội. Cả Dân Ngoại lẫn Dân Giu đa đều đã phạm tội, cả hai đều sẽ bị đoán xét.
*** Giao ước cắt bì sẽ ra vô ích nếu Dân Giu đa không phải là Dân Giu đa thật: câu 25 -29
" Thật thế, nếu ngươi làm theo luật pháp, thì phép cắt bì có ích; còn nếu ngươi phạm luật pháp, thì dầu chịu cắt bì cũng như không. 26 Vậy nếu kẻ chưa chịu cắt bì giữ các điều răn của luật pháp thì sự chưa chịu cắt bì đó há chẳng cầm như đã chịu sao? 27 Kẻ vốn không chịu cắt bì, mà làm trọn luật pháp sẽ đoán xét ngươi, là kẻ dẫu có chữ của luật pháp và phép cắt bì, lại phạm luật pháp. 28 Vì người nào chỉ bề ngoài là người Giu-đa, thì không phải là người Giu-đa, còn phép cắt bì làm về xác thịt ở ngoài, thì không phải là phép cắt bì; 29 nhưng bề trong là người Giu-đa mới là người Giu-đa, phép cắt bì bởi trong lòng, làm theo cách thiêng liêng, không theo chữ nghĩa, mới là phép cắt bì thật. Một người Giu-đa như vậy được khen ngợi, chẳng phải bởi loài người, bèn là bởi Đức Chúa Trời."
*** Phép cắt bì không làm cho một người trở nên công nghĩa:
Nếu có một người Do Thái nào đó phản bác, nói rằng tôi không bị phán xét vì tôi là hậu tự của Áp-ra-ham, tôi được chứng thực qua phép cắt bì. Phao-lô trả lời cách thẳng thắng: Cắt bì không liên quan gì đến việc được xưng công chính, phép cắt bì không đảm bảo cho sự cứu rỗi của họ.
Một số Rabbi Do Thái dạy rằng Áp-ra-ham ngồi ở cửa hỏa ngục để đảm bảo không một hậu tự nào đã chịu phép cắt bì của ông phải xuống đó. Tất cả dân Y-sơ-ra-ên đều sẽ có phần trong đời sau.
Nhưng từ rất sớm, trong bản dịch đúng của sách Phục truyền 10: 16 có chép lời khuyên của Đức Chúa Trời rằng:
" Vậy, hãy cắt bì trong lòng mình đi, chớ cứng cổ nữa,"
Mối tương giao giữa chúng ta với Chúa không phải là nghi thức hay việc thờ phượng bên ngoài, nhưng Đức Chúa Trời thấy được tấm lòng bên trong, Ngài khen ngợi người yêu mến Chúa thật lòng và muốn làm theo Lời Ngài dạy biểu.
Phao lô đề cập đến 7 nguyên tắc về sự phán xét của Đức Chúa Trời trong Rô ma đoạn 2 nầy:
1- Sự phán xét của Đức Chúa Trời dựa trên lẽ thật (Rô-ma 2:2).
2- Sự phán xét của Đức Chúa Trời dựa trên tội lỗi tích tụ (Rô-ma 2:5).
3- Sự phán xét của Đức Chúa Trời dựa trên việc làm (Rô-ma 2:6).
4 - Sự phán xét của Đức Chúa Trời không thiên vị ai (Rô-ma 2:11).
5-Sự phán xét của Đức Chúa Trời dựa trên hành động, không phải sự hiểu biết (Rô-ma 2:13).
6-Sự phán xét của Đức Chúa Trời xuyên thấu những điều kín giấu trong lòng (Rô-ma 2:16).
7- Sự phán xét của Đức Chúa Trời dựa trên tấm lòng, không phải danh xưng tôn giáo (Rô-ma 2:17-29).
Phao lô sẽ dùng thêm chương 3 và 4 để giải thích cho Dân Giu đa hiểu được vị trí của mình, chuẩn bị để họ mở lòng tiếp nhận Tin Lành cứu rỗi.