Rô ma 3: "Được xưng công chính chỉ nhờ Ân điển Ngài"

**Dân Tộc Việt **Các Phương Tiện zoom

" Đức Giê-hô-va đã tỏ cho biết sự cứu rỗi Ngài, Và lộ ra sự công bình Ngài trước mặt các nước." Thi Thiên 98: 2

Rô ma 3: "Được xưng công chính chỉ nhờ Ân điển Ngài"


Đọc Rô ma 3


Câu hỏi:

 

1/ Nếu có người không tin, thì Tin lành của Đức Chúa Trời có ra vô ích không?

 

2/ Tại sao tội nhân không đền tội mình mà vẫn có cách được xưng công nghĩa?

 

3/ Tại sao Luật pháp không cứu được dân Giu đa? Họ phải cần gì?


Vì sao Đức Chúa Trời muốn ban sự cứu rỗi cho dân Giu đa luôn với người Ngoại?

 

"Được xưng công chính chỉ nhờ Ân điển Ngài"

 

***Lợi thế của người Do Thái : câu 1 & 2

 

"Vậy thì, sự trổi hơn của người Giu-đa là thể nào, hay là phép cắt bì có ích gì chăng? 2 Ích lớn đủ mọi đàng. Trước hết là điều nầy: ấy là lời phán của Đức Chúa Trời đã phó cho dân Giu-đa."


Vậy thì người Do Thái có lợi thế gì?


  Phao-lô đã giải thích trong Rô-ma chương 2 rằng việc sở hữu Luật pháp hay chịu phép cắt bì sẽ không cứu rỗi một người Do Thái. Đã vậy, nếu Đức Chúa Trời không thiên vị ai (Rô-ma 2:11), thì việc là người Do Thái có ích lợi gì? Việc trở thành "dân tộc được Đức Chúa Trời chọn" mang lại lợi thế gì?

  Phao lô không muốn người Do Thái cảm thấy thất vọng về sự thật trên, ông nói trái lại, họ đang hưởng được rất nhiều sự sủng ái đặc biệt mà Đức Chúa Trời đã ban tặng cho dân tộc họ.


  Trước người Do Thái, Đức Chúa Trời chưa ban cho dân tộc nào trên thế gian những lời phán của Ngài, chưa có dân nào được nghe lời tiên tri, sự mặc khải, kèm theo lời hứa, mọi thứ đều được ghi chép lại tỉ mĩ, trước thời kỳ của Chúa Giê-xu.

  Ngài đã ban Lời Ngài cho dân Do Thái, và đó là một món quà vô giá. Theo Phao lô, đây là đặc quyền lớn nhất của họ, họ là những người gìn giữ thư viện của Đức Chúa Trời, là những người được tin cậy giao phó kho tàng thiên thượng ấy.


  Sau đó, Phao-lô sẽ còn nói rõ hơn về đặc ân của dân Do Thái trong thư Rô-ma 9:4, khi giải thích, dân Y-sơ-ra-ên còn có địa vị làm con nuôi, có sự vinh hiển, hưởng các giao ước, được ban luật pháp, được dạy cách thờ phượng Đức Chúa Trời và luôn có các lời hứa mà các dân tộc khác không có được.

*** Sự thành tín của Chúa vẫn được thực hiện dù có người vô tín: câu 3 & 4


" Mà làm sao! nếu một vài người trong bọn họ không thành tín, thì sự không thành tín của họ có làm cho sự thành tín của Đức Chúa Trời ra hư không sao? 4 chẳng hề như vậy! Thà xưng Đức Chúa Trời là thật và loài người là giả dối, như có chép rằng: Ấy vậy Chúa sẽ được xưng công bình trong lời phán của Ngài, Và sẽ được thắng khi chịu xét đoán."

  Dân Do Thái phần đông đã không tin vào Chương trình cứu rỗi của Đức Chúa Trời:


Ở đây, Phao lô đang muốn nói, Đức Chúa Trời đã thực hiện phương cách Cứu rỗi của Ngài qua Chúa Giê su, Tin lành được thực hiện đúng như lời Ngài hứa, cho dù dân Do Thái có tin hay không tin, thì điều đó không hề ảnh hưởng đến công việc của Đức Chúa Trời, cũng không có nghĩa là công việc của Ngài thành vô nghĩa hay không mang lại kết quả.

Chúng ta cũng nên nói như Phao-lô: ‘Vậy thì sao, nếu có những người không tin?’


  Đó chẳng phải là chuyện mới mẻ, vì xưa nay vẫn luôn có những kẻ khước từ sự mặc khải của Đức Chúa Trời. Vậy thì sao? Tốt hơn hết chúng ta hãy cứ tiếp tục tin cậy vào sự thành tín của Đức Chúa Trời, nhìn lên Đấng Christ là Chúa chúng ta mà sống, ngay cả khi phải thấy hết nhóm người hoài nghi này đến nhóm vô tín khác, cứ thế tiếp diễn mãi mãi.

 Tin Lành không hề thất bại, như nhiều người trong chúng ta đều biết, Tin lành mang ân điển đến cho người tin, nhưng Tin lành cũng xét đoán người chẳng tin.

*** Đức Chúa Trời càng được vinh hiển khi loài người sa đà trong sự dữ: câu 5 -8

" Song nếu sự không công bình của chúng ta tỏ ra sự công bình của Đức Chúa Trời, thì sẽ nói làm sao? Khi Đức Chúa Trời giáng cơn giận thì Ngài không công bình sao? (Tôi nói như cách người ta nói). 6 Chẳng hề như vậy! Nếu vậy thì Đức Chúa Trời đoán xét thế gian thể nào? 7 Nhưng, nếu lẽ thật Đức Chúa Trời bởi sự nói dối của tôi mà được sự vinh hiển lớn hơn, thì sao tôi còn bị đoán xét như kẻ có tội? 8 vậy thì, sao chúng ta không làm sự dữ cho được sự lành, như kẻ gièm pha đã cáo và quyết rằng chúng ta dạy điều ấy? Sự đoán phạt những người đó là công bình."

 

  Phao-lô nhắc nhở chúng ta rằng Đức Chúa Trời sẽ được minh chứng là công chính trong mọi hành động của Ngài. Sự bất chính của con người làm tăng sự vinh hiển của Chúa.


   Đừng có lý luận rằng, nếu tôi càng làm nhiều tội thì Chúa càng được tỏ ra công bình, không phải như vậy, Giu đa ích ca ri ốt không thể biện minh rằng, nhờ tôi phản bội mà Chúa Giê su mới lên thập tự giá.

   Kẻ làm tội sẽ lãnh tội, nhưng Đấng công bình khi đổ cơn thịnh nộ vì kẻ có tội, vẫn được xem là công bình.

Một phần trong cách Đức Chúa Trời tôn vinh chính Ngài qua tội lỗi của con người, chính là việc Ngài phán xét sự bất chính đó một cách công bình.

Đức Chúa Trời luôn phán Lẽ thật, Ngài không thể nói dối, chỉ có loài người nói dối. Đức Chúa Trời không thay đổi; Lời Ngài cũng bất biến như chính Ngài.

  Chúng ta phải tin vào Lẽ thật của Đức Chúa Trời ngay khi kẻ khác không tin điều đó.

Ý kiến sai lệch về Chúa ​​của số đông, chẳng có nghĩa lý gì đối với một Cơ Đốc nhân. Người ấy tin vào lời Đức Chúa Trời và coi trọng lời ấy hơn cả quan điểm chung của cả thế gian. Cơ đốc nhân luôn thấy sự công bình của Đức Chúa Trời tỏ rõ khi Ngài xét đoán kẻ ác.


Thế gian hay làm ác, nhưng vẫn cho là Đức Chúa Trời không công bình nếu Ngài xét đoán họ, khi ở cương vị một con người sa ngã, thì người ta mới dám chất vấn sự công chính của Đức Chúa Trời.


Nếu mọi sự diễn ra đúng như điều con người sa ngã ám chỉ, thì Đức Chúa Trời sẽ chẳng có thể phán xét bất cứ ai.

*** Người Ngoại và người Giu đa, tất cả đều phạm tội: câu 9 -18

"Thế nào! Chúng ta có điều gì hơn chăng? Chẳng có, vì chúng ta đã tỏ ra rằng người Giu-đa và người Gờ-réc thảy đều phục dưới quyền tội lỗi, 10 như có chép rằng: Chẳng có một người công bình nào hết, dẫu một người cũng không. 11 Chẳng có một người nào hiểu biết, Chẳng có một người nào tìm kiếm Đức Chúa Trời. 12 Chúng nó đều sai lạc cả, thảy cùng nhau ra vô ích; Chẳng có một người làm điều lành, dẫu một người cũng không. 13 Họng chúng nó như huyệt mả mở ra; Dùng lưỡi mình để phỉnh gạt; Dưới môi chúng nó có nọc rắn hổ mang. 14 Miệng chúng nó đầy những lời nguyền rủa và cay đắng. 15 Chúng nó có chân nhẹ nhàng đặng làm cho đổ máu. 16 Trên đường lối chúng nó rặc những sự tàn hại và khổ nạn, 17 Chúng nó chẳng hề biết con đường bình an. 18 Chẳng có sự kính sợ Đức Chúa Trời ở trước mặt chúng nó."

  Phao lô cho mọi người biết rằng, dưới mắt Đức Chúa Trời, trên thế gian nầy, không có người nào, dù là Giu đa hay người ngoại, đạt đến hai từ "vô tội" Dẫu một người cũng không.

Vì sao? Vì mọi người đều phục dưới quyền tội lỗi. Đây là một cụm từ đầy sức nặng, nó diễn tả tình trạng nô lệ cho tội lỗi của con người, theo nghĩa đen là "bị bán dưới quyền lực của tội lỗi".


Xét về bản chất, mọi người, dù là người Do Thái hay người Hy Lạp, đều biết thế nào là làm nô lệ cho tội lỗi, bị tội lỗi cai trị, không thoát ra được.

Thi thiên 14: 1 -3 chép


" Kẻ ngu dại nói trong lòng rằng: chẳng có Đức Chúa Trời. Chúng nó đều bại hoại, đã làm những việc gớm ghiếc; Chẳng có ai làm điều lành. 2 Đức Giê-hô-va từ trên trời ngó xuống các con loài người, Đặng xem thử có ai khôn ngoan, Tìm kiếm Đức Chúa Trời chăng. 3 Chúng nó thay thảy đều bội nghịch, cùng nhau trở nên ô uế; chẳng có ai làm điều lành, Dầu một người cũng không."


Ê sai 59: 7 & 8
" Chân họ chạy đến điều ác, nôn nả làm đổ máu vô tội; tư tưởng họ là tư tưởng gian tà, sự phá hại diệt vong là ở trên đường lối họ. 8 Họ không biết đường bình an, trong đường họ đi không có sự công nghĩa. Họ tự làm những lối quanh queo: ai đi trong đó thì chẳng biết sự bình an!"

  Người Giu đa đọc nhiều trong cựu ước, Chúa không khen loài người, cũng không khen họ, Chúa nói không ai công bình trước mắt Chúa. Thậm chí dân Do Thái còn bị Chúa đặt cho một cái tên là dân " cứng cổ" thì khi Phao lô, cũng là dân Do Thái, tự nhận mình có tội, thì người khác cũng có tội.

Phao lô đem đến cho dân Giu đa cái nhìn về tình trạng con người thật ảm đạm. Mục đích của việc này là gì?
Phao-lô muốn người ta hiểu rằng mình hoàn toàn bất lực trong việc tự cứu lấy chính mình. Sự sa ngã ảnh hưởng đến mọi khía cạnh trong bản chất con người.


*** Không có ai sống công chính:
Khi Đức Chúa Trời không tìm thấy ai công chính, ấy là vì thực sự không có ai như vậy. Không phải là có những người công chính nhưng Đức Chúa Trời lại không nhìn thấy họ. Chưa từng có một con người nào thực sự công chính ngoại trừ Chúa Giê-xu Christ.

***Chẳng có ai tìm kiếm Đức Chúa Trời:


Chúng ta tự lừa dối mình khi nghĩ rằng con người, bằng nỗ lực của chính mình, thực sự tìm kiếm Đức Chúa Trời. Nếu con người là bên khởi xướng việc tìm kiếm, thì họ không tìm kiếm Đức Chúa Trời chân thật, tức Đức Chúa Trời của Kinh Thánh. Thay vào đó, họ tìm kiếm một thần tượng do chính mình tạo ra. Ngay cả với dân Giu đa, Chúa dạy họ cách tương giao với Ngài qua sự thờ phượng, nhưng Chúa trách họ rằng:

"Các ngươi đã thực hiện những nghi thức thờ phượng, nhưng lòng các ngươi xa Ta lắm! "

Họ không thực sự tìm kiếm Đức Chúa Trời. Ngài tuyên bố, Ta chán ngấy sự sùng đạo sáo rỗng này. Đó không phải là sự tương giao với Đức Chúa Trời, Ngài hoàn toàn không hiện diện trong đó.

Họ đã cùng nhau trở nên vô ích: Từ "vô ích" mang hàm ý về một điều gì đó đã trở nên tồi tệ, không còn tác dụng gì nữa.

*** Họng như huyệt mã, lưỡi phỉnh gạt, dưới môi có nọc rắn:


  Giống như sách Ê sai 59 chép, loài người xử dụng mỗi bộ phận trên thân thể mình để làm một công cụ gian ác, nhất là cái miệng, đưa người ta đến sự chết, chuyên nói dối, ở đó đủ mọi điều ô uế như mồ mã.


Thi thiên 73:9 chép:

  " Miệng thì nói hành thiên thượng, Còn lưỡi lại phao vu thế gian."


  Cổ họng, lưỡi, môi, miệng, đôi chân và đôi mắt đều chứa đầy tội lỗi và sự nổi loạn chống lại Đức Chúa Trời. Do đó, mọi người không thể có được sự bình an, phước hạnh mà Đức Chúa Trời muốn dành cho họ.

*** Luật pháp chỉ cho người ta biết tội lỗi, nhưng không cứu được khỏi tội: câu 19 & 20

" Vả, chúng ta biết rằng những điều mà luật pháp nói, là nói cho mọi kẻ ở dưới luật pháp, hầu cho miệng nào cũng phải ngậm lại, cả thiên hạ đều nhận tội trước mặt Đức Chúa Trời; 20 vì chẳng có một người nào bởi việc làm theo luật pháp mà sẽ được xưng công bình trước mặt Ngài, vì luật pháp cho người ta biết tội lỗi."

  Phao-lô chỉ ra rằng sự mô tả về tình trạng tội lỗi của con người đến từ luật pháp; nó nhắm vào những ai đang ở dưới quyền luật pháp, cả thế giới đều phải chịu trách nhiệm trước mặt Đức Chúa Trời.


  Nhiều người Do Thái thời Phao-lô thường lấy những đoạn Kinh Thánh Cựu Ước mô tả về sự gian ác và sự đoán phạt chỉ cho dân ngoại, chứ không phải cho chính họ.

   Phao-lô khẳng định rõ ràng rằng Đức Chúa Trời đang phán với những người đang ở dưới quyền luật pháp. Nếu Đức Chúa Trời phán như vậy với những ai đã có luật pháp thì rõ ràng là không một ai có thể được xưng công chính trước mặt Ngài nhờ vào việc làm theo luật pháp.


Luật pháp không thể khiến bất kỳ ai trở nên công bình. Nó hữu ích trong việc giúp chúng ta nhận biết tội lỗi, nhưng lại không thể cứu rỗi chúng ta.
Phao lô nhấn mạnh,việc tuân giữ luật pháp không phải là con đường dẫn đến sự cứu rỗi hay sự ban phước của Đức Chúa Trời trong Tin lành của Giao Ước Mới.


*** Được xưng công bình bởi Đức tin, chứ không bởi luật pháp: câu 21 -28


" Nhưng hiện bây giờ, sự công bình của Đức Chúa Trời, mà luật pháp và các đấng tiên tri đều làm chứng cho, đã bày tỏ ra ngoài luật pháp; 22 tức là sự công bình của Đức Chúa Trời, bởi sự tin đến Đức Chúa Jêsus Christ, cho mọi người nào tin, chẳng có phân biệt chi hết, 23 vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, 24 và họ nhờ ân điển Ngài mà được xưng công bình nhưng không, bởi sự chuộc tội đã làm trọn trong Đức Chúa Jêsus Christ, 25 là Đấng Đức Chúa Trời đã lập làm của lễ chuộc tội, bởi đức tin trong huyết Đấng ấy. Ngài đã bày tỏ sự công bình mình như vậy, vì đã bỏ qua các tội phạm trước kia, 26 trong buổi Ngài nhịn nhục; tức là Ngài đã tỏ sự công bình Ngài trong thời hiện tại, tỏ ra mình là công bình và xưng công bình kẻ nào tin đến Đức Chúa Jêsus. 27 Vậy thì sự khoe mình ở đâu? Đã bị trừ bỏ rồi. Bởi luật pháp nào? Luật pháp của việc làm chăng? Không phải, nhưng bởi luật pháp của đức tin; 28 vì chúng ta kể rằng người ta được xưng công bình bởi đức tin, chớ không bởi việc làm theo luật pháp."

  Dân Giu đa được dạy về luật pháp, nhưng Phao lô khẳng định, không có một người nào làm trọn luật pháp để được xưng công bình. Như vậy, có cách nào cứu được họ không?


Phao lô nói " Có" đó là phương thức được xưng công bình bởi Đức Tin. Điều nầy nằm trong giao ước mới của Đức Chúa Trời, qua Chúa Giê su. Giao Ước Mới được Luật pháp và các Đấng Tiên tri làm chứng cho mọi người rằng, vẫn có sự tiếp nối với công việc của Đức Chúa Trời trong thời xưa.
Dù Luật pháp không thể cứu chúng ta, nhưng Đức Chúa Trời bày tỏ một sự công chính có thể cứu rỗi chúng ta, tách biệt khỏi luật pháp. Đây là cốt lõi trong kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời nơi Chúa Giê-xu Christ.

  Đó là sự cứu rỗi được ban cho, không nhờ luật pháp, không nhờ vào sự nỗ lực hay xứng đáng của bản thân, và không nhờ vào công đức của chính chúng ta, thế thì nhờ vào điều gì?

Nhờ đức tin nơi Chúa Giê-xu Christ

Chúng ta không đạt được sự công chính qua việc làm của mình, nhưng chúng ta nhận lãnh sự công chính nhờ đức tin nơi Chúa Giê-xu Christ. Đó là con đường duy nhất để được xưng công chính, Đức Chúa Trời không chấp nhận cách nào khác.

Phao-lô triển khai giáo lý về sự cứu rỗi xoay quanh ba chủ đề:


1/ Kẻ có tội bị án tử hình ( toà án)
2/ Tội nhân được người chết thế (Chúa Giê su)
3/ Bản án được thi hành, tội nhân được tha (sự cứu chuộc)

Ba hình ảnh đó nói lên điều gì?

1/Có tội phải đền tội (Sự công chính của Đức Chúa Trời)
2/ Chính Đức Chúa Trời chết thay cho tội nhân (Tình yêu của Chúa đối với con người)
3/ Được tha thứ vì bản án được thi hành (Phương thức duy nhất được toà chấp thuận)

 

  Như vậy, tội nhân có thể khoe khoang là vì tôi đã tốt mà tôi được tha không? Hoàn toàn không?
Hay, tội nhân nói, tôi không cần người chết thế? Cũng không được


   Giải pháp để có một người không hề có tội, vui lòng chết thế, là giải pháp của Đức Chúa Trời, tội nhân chỉ cần tin Đấng đó được ban cho mình là đủ, không cần tiền, không đòi giá. *Dorean* trong tiếng Hy Lạp cổ có nghĩa là miễn phí.

Kinh thánh đang giới thiệu, sự Cứu rỗi được ban cho qua Ân điển. Đức Chúa Trời đang trì hoãn sự xét đoán của Ngài và chờ đợi mọi người, không phân biệt Giu đa hay người Ngoại đến với Chúa Giê su để được xưng công chính.

*** Đức Chúa Trời là của mọi người trên đất - Tin lành cũng sẽ được ban cho không phân biệt Giu đa hay người Ngoại: câu 29 -31

" Hay là, Đức Chúa Trời chỉ là Đức Chúa Trời của dân Giu-đa sao? Há chẳng phải cũng là Đức Chúa Trời của dân ngoại ư? Phải, Ngài cũng là của dân ngoại nữa; 30 Vì chỉ có một Đức Chúa Trời, là Đấng làm cho kẻ chịu cắt bì được xưng công bình bởi đức tin, cũng làm cho kẻ không chịu cắt bì được xưng công bình bởi đức tin nữa. 31 Vậy, chúng ta nhân đức tin mà bỏ luật pháp hay sao? Chẳng hề như vậy! Trái lại, chúng ta làm vững bền luật pháp."

Giải pháp cứu rỗi của Đức Chúa Trời là giao điểm của dân Giu đa và dân Ngoại, bởi đức tin, mọi người đều được xưng công bình, đều được cứu rỗi. Phao lô cho biết, dân Giu đa cũng bị xét đoán như dân ngoại, bây giờ Đấng Cứu rỗi cũng sẽ được ban cho cả hai bên, hễ ai tin thì được cứu. Ngày nay, chúng ta nghe điều nầy rất bình thường, nhưng vào thời của Phao lô, cả hai ý niệm xét đoán và ban cho đều được người Giu đa suy diễn theo cách của họ. Dân Giu đa khó chịu khi Phao lô nói Tin lành được rao ra cho kẻ ở xa (dân Ngoại) cũng cho kẻ ở gần ( Giu đa). Có thể họ sẽ nói rằng:
"Phao lô, ông hủy bỏ luật pháp rồi, ông đang đi ngược lại luật pháp của Đức Chúa Trời.”


Nhưng Phao lô khẳng định, không phải, chính Đức tin làm cho Luật pháp được vững bền, ông sẽ giải thích tại sao trong đoạn 4 kế tiếp.