Rô ma 4: Được " Kể là Công bình " bởi Đức Tin
"Anh em thảy đều muốn cậy luật pháp cho được xưng công bình, thì đã lìa khỏi Đấng Christ, mất ân điển rồi."Ga la ti 5: 4
Rô ma 4: Được "Kể là Công bình" bởi Đức Tin
Câu hỏi:
1/ Vì sao Phao lô nêu ra bằng chứng rằng Áp ra ham được "Kể là Công nghĩa" trước khi có Luật pháp và trước khi có Giao ước cắt bì?
Áp ra ham được xem như Công nghĩa nhờ gì?
2/ Đa vít có nói mình không vi phạm luật và vô tội không? Nhưng ông tin rằng ông được gì? Nhờ gì?
3/ Nếu không phải bởi cắt bì, mà chỉ bởi Đức Tin nơi Chúa Giê su thì Người Ngoại được cứu không? Đức tin của Áp ra ham có gì đặt biệt?
Được " Kể là Công bình " bởi Đức Tin
***Áp ra ham được xưng công bình bởi Đức Tin chứ không phải bởi việc làm: câu 1 - 3
" Vậy, chúng ta sẽ nói Áp-ra-ham, tổ phụ chúng ta, theo xác thịt đã được ích gì? 2 Thật thế nếu Áp-ra-ham đã được xưng công bình bởi việc làm, thì có cớ khoe mình; nhưng trước mặt Đức Chúa Trời không có như vậy. 3 Vì Kinh Thánh có dạy chi? Áp-ra-ham tin Đức Chúa Trời, và điều đó kể là công bình cho người."
Trong đoạn trước, Rô ma 3:21 Phao lô nói:
Sự xưng công bình của Đức Chúa Trời được tỏ ra ngoài luật pháp - Khi đề cập đến luật pháp, chúng ta có thể nghĩ ngay đến công sức của việc làm, như vậy, người nghe có thể đặt ra một câu hỏi:
" Nếu sự xưng công bình nầy, tách biệt khỏi các việc làm theo luật pháp, có khiến cho những gì Đức Chúa Trời đã thực hiện trong Cựu Ước trở nên vô nghĩa hay không?"
Để trả lời câu hỏi đó, Phao-lô hướng đến Áp-ra-ham – người được kính trọng nhất trong dân Do Thái thời bấy giờ, Phao lô phân tích rằng, nếu Áp-ra-ham được xưng công bình nhờ việc làm, thì Áp ra ham đã có lý do để khoe khoang, nhưng không phải, Cựu Ước không nói rằng Áp-ra-ham được xưng công chính nhờ vào các việc làm của mình.
Thay vào đó, Sáng-thế Ký 15:6 chép: "Áp-ra-ham đã tin Đức Chúa Trời, và điều đó được kể cho ông là sự công chính."
Phao-lô khẳng định: Sự công chính của Áp-ra-ham không đến từ việc thực hiện các việc lành, mà đến từ đức tin nơi Đức Chúa Trời. Đó là sự công chính đạt được nhờ đức tin. Khi tuyên bố điều nầy, Phao lô chắc hẳn đã đụng chạm rất nhiều với dân Do Thái vì thời đó, các giáo sư Do Thái tin và dạy dân chúng rằng:
Áp-ra-ham được xưng công chính nhờ việc làm, tức là nhờ tuân giữ Luật pháp. Các văn bản cổ của các giáo sĩ Do Thái có chép:
“Chúng ta thấy rằng Áp-ra-ham, tổ phụ chúng ta, đã thực hành trọn vẹn Luật pháp trước khi Luật pháp được ban hành”
“Áp-ra-ham trọn vẹn trong mọi hành động của mình trước mặt Chúa.”
Các giáo sĩ lập luận rằng Áp-ra-ham đã tuân giữ Luật pháp một cách hoàn hảo, ngay cả trước khi nó được ban hành, thực hiện điều đó nhờ trực giác hoặc sự nhận biết trước.
Ngay trong ba câu đầu tiên, Phao lô nói rằng Áp ra ham không có gì để khoe mình trước mặt Đức Chúa Trời, chỉ nhờ Đức Tin mà ông được kể là công chính. Câu nầy có nghĩa, chúng ta chưa đạt đến mức công chính của Đức Chúa Trời, nhưng Ngài xem như chúng ta công chính. Sau đây là một quá trình "nên thánh" của mỗi cơ đốc nhân:
Sau khi được kể là công chính, Đức Chúa Trời mới bắt đầu biến đổi để chúng ta thực sự trở nên công chính, và quá trình này đạt đến đỉnh điểm vào ngày chúng ta sống lại.
Điều nầy giải thích tại sao Phao lô gọi các cơ đốc nhân tại Rô ma là Thánh đồ: Rô ma 1: 7
" Gởi cho hết thảy những người yêu dấu của Đức Chúa Trời tại thành Rô-ma, được gọi làm thánh đồ."
Phao lô trích dẫn lời của Môi se chép trong Sáng thế ký 15: 6
"Áp-ram tin Đức Giê-hô-va, thì Ngài kể sự đó là công bình cho người."
Chữ "được kể là" tương ứng với từ *logizomai* trong tiếng Hy Lạp. Từ này từng được sử dụng trong các văn bản thế tục thời xưa, với nghĩa ‘ghi vào tài khoản của ai đó’
Áp-ra-ham sở hữu sự công chính cũng giống như cách một người sở hữu khoản tiền được gửi vào tài khoản ngân hàng của mình vậy. Hãy nhớ rằng, được kể là công chính còn lớn hơn được xem không phạm tội. Một người không phạm luật pháp, được xem không phạm tội, chứ chưa đạt đến mức " được xem là công chính", đó còn là lời tuyên bố được công chính từ Đức Chúa Trời, có sự vinh hiển của Ngài lồng vào đó.
*** Sự khác biệt giữa Ân điển với việc làm: câu 4 &5
"Vả, đối với kẻ nào làm việc, thì tiền công không kể là ơn, nhưng kể như là nợ, 5 còn kẻ chẳng làm việc chi hết, nhưng tin Đấng xưng người có tội là công bình, thì đức tin của kẻ ấy kể là công bình cho mình."
Khái niệm Ân điển đối lập với nguyên tắc của Việc làm; Ân điển liên quan đến việc nhận lãnh món quà được ban cho nhưng không từ Đức Chúa Trời, còn Việc làm liên quan đến việc tạo dựng công trạng trước mặt Ngài.
Phao lô lấy một ví dụ: Đối với người làm việc, tiền công không được kể là ân điển, người ấy làm việc, chủ phải trả lương, đôi bên sòng phẳng.
Ân điển lấy từ chữ Hy lạp *Charis* biểu thị một ân huệ được ban ra từ lòng rộng rãi tự nguyện, không hề mong đợi sự đền đáp.
Tư tưởng trong hệ thống dựa trên việc làm, khiến Đức Chúa Trời trở thành "con nợ" của con người, buộc Ngài phải ban ân huệ vì những hành vi tốt đẹp của chúng ta. Theo tư duy dựa vào việc làm như thế, hoá ra Đức Chúa Trời mắc nợ họ sự cứu rỗi vì những việc lành mà họ đã thực hiện.
Câu 5 Phao lô nói đến kẻ không làm việc chi hết, đối nghịch với kẻ đang cho mình làm việc vì Đức Chúa Trời ở phần trên, dù anh ta không làm việc, không thể kể công gì trước mặt Đức Chúa Trời, nhưng nếu anh ta Tin Đấng có thể kể người có tội là công bình, thì anh ta được Chúa kể là công bình!
Điều nầy có khó nghe hay không?
Có, đối với người Giu đa đang bị trói buộc trong giới hạn của luật pháp nhưng là
Không, với tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời trong Kinh thánh-
Nếu một người thi hành luật pháp không đầy đủ, không trọn vẹn thì cũng bị kết án như người không theo luật pháp. Cả hai đều vẫn là tội nhân.
Sự cứu rỗi dành cho mọi tội nhân. Tin là giải pháp duy nhất để tội nhân " được kể là Công bình"
Áp ra ham được kể là công chính, không phải là Ân điển đặc biệt dành riêng cho Áp ra ham, chúng ta cũng có thể bước vào mối tương giao này với Đức Chúa Trời.
Mọi người từng được cứu, dù thuộc thời Cựu Ước hay Tân Ước, đều được cứu nhờ ân điển qua đức tin, thông qua mối tương giao đầy lòng tin cậy và yêu mến với Đức Chúa Trời.
Nhờ Giao Ước Mới, chúng ta hưởng được những phước hạnh của sự cứu rỗi mà các thánh đồ thời Cựu Ước không có, nhưng phương thức cứu rỗi thì không hề khác biệt.
*** Đa vít cũng được xưng Công bình bởi Đức Tin. Câu 6 -8
" Ấy vậy, vua Đa-vít cũng tỏ ra cái phước của người mà Đức Chúa Trời kể cho là công bình chẳng bởi việc làm, mà rằng: 7 Phước thay cho kẻ, lỗi mình được tha thứ, Tội mình được che đậy! 8 Phước thay cho người mà Chúa chẳng kể tội lỗi cho!"
Chúng ta hãy để Vua Đa vít tự nói về mình, Vua Đa-vít trong Cựu Ước hiểu rõ cảm giác của một tội nhân mang đầy mặc cảm tội lỗi. Qua nhiều trang trong Thi thiên, Đa vít đã chia sẽ rất nhiều về nhận thức nghiêm trọng của tội lỗi khi vi phạm và phước hạnh khi được tha thứ.
Đa vít biết rõ phước hạnh dành cho người được Đức Chúa Trời kể là công chính mà không dựa vào việc làm. Nếu chỉ bị xét đoán dựa trên việc làm, chắc chắn Đức Chúa Trời công chính đã phải kết án Đa vít, tuy nhiên, qua kinh nghiệm bản thân, Đa vít đã viết ra rằng phước thay cho những ai được tha thứ các hành vi phạm luật. Thi thiên 32: 1 - 6
" Phước thay cho người nào được tha sự vi phạm mình! Được khỏa lấp tội lỗi mình! 2 Phước thay cho người nào Đức Giê-hô-va không kể gian ác cho, Và trong lòng không có sự giả dối! 3 Khi tôi nín lặng, các xương cốt tôi tiêu-tàn, Và tôi rên siếc trọn ngày; 4 Vì ngày và đêm tay Chúa đè nặng trên tôi; Nước bổ thân tôi tiêu hao như bởi khô hạn mùa hè. 5 Tôi đã thú tội cùng Chúa, không giấu gian ác tôi; Tôi nói: Tôi sẽ xưng các sự vi phạm tôi cùng Đức Giê-hô-va; Còn Chúa tha tội ác của tôi. 6 Bởi cớ ấy phàm người nhân đức đều cầu nguyện cùng Chúa trong khi có thể gặp Ngài; Quả thật, trong lúc có nước lụt lan ra, thì sẽ chẳng lan đến người."
Dù có nỗ lực đến đâu, không một tội nhân nào có thể tự mình loại bỏ tội lỗi và trở lại trong tình trạng sạch tội. Một khi đã phạm, mọi tội lỗi và hậu quả của nó sẽ đeo bám tội nhân chặt chẽ như hình với bóng, đeo đẳng mãi mãi đến muôn đời trừ khi chính Đức Chúa Trời cất bỏ chúng đi.
Đa-vít đồng quan điểm với Áp-ra-ham về khái niệm " được kể là công chính" một sự Công chính được ban tặng chứ không phải do công sức tự làm mà có.
*** Áp ra ham được kể là Công bình trước khi cắt bì: câu 9 -13
" Vậy, lời luận về phước đó chỉ chuyên về kẻ chịu cắt bì mà thôi sao? Cũng cho kẻ không chịu cắt bì nữa. Vả, chúng ta nói rằng đức tin của Áp-ra-ham được kể là công bình cho người. 10 Nhưng được kể thế nào? Khi người đã chịu cắt bì rồi, hay là khi người chưa chịu cắt bì? Ấy không phải sau khi người chịu cắt bì, bèn là trước. 11 Vậy, người đã nhận lấy dấu cắt bì, như dấu ấn của sự công bình mà người đã được bởi đức tin, khi chưa chịu cắt bì; hầu cho làm cha hết thảy những kẻ tin mà không chịu cắt bì, đặng họ được kể là công bình, 12 và cũng làm cha những kẻ chịu cắt bì, tức là cha những kẻ không những chịu cắt bì thôi, lại cũng noi theo dấu đức tin mà Áp-ra-ham, tổ phụ chúng ta, đã có trước khi chưa chịu cắt bì vậy. 13 Vả, ấy chẳng phải bởi luật pháp mà có lời hứa cho Áp-ra-ham hoặc dòng dõi người lấy thế gian làm gia nghiệp, bèn là bởi sự công bình của đức tin."
Khi viết thư Rô ma đoạn 4 nầy, Phao lô đang nhắm tới đọc giả là người Giu đa.
Sau khi nêu ra những bằng chứng về Đức Tin của hai tổ phụ yêu kính nhất của dân Do Thái, Phao lô quay sang luận về giao ước cắt bì, một giao ước mà dân Do thái cầm giữ như là một bằng chứng rằng mình được cứu bởi giao ước với Áp ra ham.
Chúng ta hãy xem Phao lô giải thích thế nào để lồng người ngoại vào trong những chữ "được kể là Công chính" đó?
Phao lô nói, nếu chúng ta được Đức Chúa Trời kể là công chính nhờ đức tin chứ không phải nhờ sự cắt bì, hay bất kỳ điều kiện nào khác, thì phước hạnh được đề cập trong Rô-ma 4:7 "Phước thay cho kẻ, lỗi mình được tha thứ, Tội mình được che đậy!"
cũng có thể được ban cho những người Dân Ngoại không chịu cắt bì thông qua đức tin. Phao lô hỏi dân Giu đa rằng:
Vậy, sự công chính ấy được kể cho Áp ra ham vào lúc nào? Khi ông đã chịu cắt bì hay khi chưa chịu cắt bì?
Khi Áp-ra-ham được kể là công chính trong Sáng-thế Ký 15:6 thì Áp ra ham chưa nhận lãnh giao ước cắt bì, cho đến tận Sáng-thế Ký chương 17, tức là ít nhất 14 năm sau đó. Do đó, sự công chính của ông không dựa trên sự cắt bì, mà dựa trên đức tin.
Thật vậy, Áp-ra-ham, tổ phụ của tất cả những người có đức tin, đã được tuyên xưng là công chính ngay khi ông chưa chịu cắt bì! Vì thế, làm sao có thể nói rằng Dân Ngoại buộc phải chịu cắt bì thì Đức Chúa Trời mới tuyên xưng họ là công chính được?
Đối với người Do Thái thời Phao-lô, ý nghĩa của phép cắt bì vượt xa khía cạnh xã hội. Đó là bước khởi đầu cho một đời sống tuân giữ Luật pháp Môi-se, họ buộc người ngoại theo đạo Đấng Christ phải cắt bì thì mới hưởng được sự cứu rỗi, Phao lô đã lên tiếng vì điều nầy trong Ga la ti 5: 2 - 6
" Tôi là Phao-lô nói với anh em rằng, nếu anh em chịu làm phép cắt bì, thì Đấng Christ không bổ ích chi cho anh em hết. 3 Tôi lại rao cho mọi người chịu cắt bì rằng, họ buộc phải vâng giữ trọn cả luật pháp. 4 Anh em thảy đều muốn cậy luật pháp cho được xưng công bình, thì đã lìa khỏi Đấng Christ, mất ân điển rồi. 5 Về phần chúng ta, ấy là bởi đức tin và nhờ Thánh Linh mà chúng ta được nhận lãnh sự trông cậy của sự công bình. 6 Vì trong Đức Chúa Jêsus Christ, cái điều có giá trị, không phải tại chịu phép cắt bì hoặc không chịu phép cắt bì, nhưng tại đức tin hay làm ra bởi sự yêu thương vậy."
Người Do Thái thời Phao-lô cho rằng phép cắt bì chứng tỏ họ là dòng dõi đích thực của Áp-ra-ham, nhưng Phao-lô tuyên bố, để nhận Áp-ra-ham làm cha, người ta phải bước đi theo dấu chân đức tin mà chính Áp-ra-ham đã bước đi. Tất cả những người thuận theo Đức Tin mới là con cháu Áp ra ham. Người Do Thái không cho phép một người Dân Ngoại đã chịu cắt bì và cải đạo sang Do Thái giáo được gọi Áp-ra-ham là "tổ phụ chúng ta" ngay trong nhà hội. Người cải đạo phải gọi Áp-ra-ham là "tổ phụ của các ông", và chỉ những người Do Thái chính gốc mới được gọi Áp-ra-ham là "tổ phụ chúng ta". Phao-lô đã xóa bỏ sự phân biệt đó và tuyên bố rằng, nhờ đức tin, tất cả mọi người đều có thể nói: "tổ phụ Áp-ra-ham".
Hẳn là một sự bất bình lớn cho người Do Thái khi Phao lô nói như ở trên. Bước theo đức tin của Áp ra ham quan trọng hơn bước theo sự cắt bì.
***Lời hứa ban cho Áp ra ham qua Đức tin chứ không từ việc làm hay từ luật pháp: câu 13 - 17
" Vả, ấy chẳng phải bởi luật pháp mà có lời hứa cho Áp-ra-ham hoặc dòng dõi người lấy thế gian làm gia nghiệp, bèn là bởi sự công bình của đức tin. 14 Vì, nếu bởi luật pháp mà được hưởng gia nghiệp, thì đức tin ra vô ích, lời hứa cũng bỏ rồi, 15 vì luật pháp sanh ra sự giận; song đâu không có luật pháp, thì đó cũng không có sự phạm luật pháp. 16 Vậy nên, bởi đức tin mà người ta trở nên kẻ ăn gia tài, hầu cho sự ấy được bởi ân điển, và cho lời hứa được chắc chắn cho cả dòng dõi Áp-ra-ham, chẳng những cho dòng dõi dưới quyền luật pháp, mà cũng cho dòng dõi có đức tin của Áp-ra-ham, là tổ phụ hết thảy chúng ta, 17 y như lời chép rằng: Ta đã lập ngươi làm cha nhiều dân tộc, thật người là cha chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời, tức là Đấng người đã tin, là Đấng ban sự sống cho kẻ chết, gọi những sự không có như có rồi. "
Mọi sự kiện liên quan giữa Đức Chúa Trời và Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp đều diễn ra trước khi Luật pháp Môi-se được ban hành, nên ta không thể nói rằng chúng dựa trên luật pháp. Thay vào đó, chúng dựa trên việc Đức Chúa Trời tuyên bố Áp-ra-ham là người công chính nhờ đức tin.
Đức tin là nền tảng cho sự ban phước của Đức Chúa Trời. Quả thật, Áp-ra-ham là người được ban phước, nhưng ông trở thành người thừa kế thế gian dựa trên một nguyên tắc hoàn toàn khác, đó là đức tin đơn sơ. Luật pháp không thể đưa chúng ta bước vào những phước hạnh trong lời hứa của Đức Chúa Trời. Điều này không phải vì luật pháp xấu, mà vì chúng ta không có khả năng tuân giữ nó.
Vì luật pháp gây ra cơn thịnh nộ:
Việc chúng ta không thể tuân giữ luật pháp, sự vi phạm của chúng ta tích luỹ nhiều bằng chứng, đem đến cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời đối với chúng ta, điều này sẽ được áp dụng nếu chúng ta coi luật pháp là nguyên tắc để được xưng công chính và để tương giao với Đức Chúa Trời.
"Song đâu không có luật pháp, thì đó cũng không có sự phạm luật pháp."
Tại sao Phao lô nói như vậy?
Phạm luật là từ chính xác để chỉ hành động bước qua một lằn ranh, tức là vi phạm một điều răn đã được quy định rõ ràng. Nơi nào không có lằn ranh, thì không có sự phạm luật thực sự. Cội rễ của tội lỗi không nằm ở việc vi phạm luật pháp, mà ở việc đánh mất lòng tin nơi Đức Chúa Trời, chối bỏ mục đích đầy yêu thương trong mỗi điều răn Ngài ban ra.
Trước khi phạm tội, A-đam đã đánh mất lòng tin nơi Đức Chúa Trời, do đó, kế hoạch cứu chuộc của Ngài tập trung vào mối tương giao dựa trên tình yêu và lòng tin cậy, tức đức tin, thay vì việc tuân giữ luật pháp.
*** Bông trái từ Đức Tin của Áp ra ham - Mọi người Tin Chúa Giê su đều được kể là Công bình: câu 18 - 25
" Người cậy trông khi chẳng còn lẽ trông cậy, cứ tin, và trở nên cha của nhiều dân tộc, theo lời đã phán cho người rằng: Dòng dõi ngươi sẽ như thể ấy. 19 Người thấy thân thể mình hao mòn, vì đã gần đầy trăm tuổi, và thấy Sa-ra không thể sanh đẻ được nữa, song đức tin chẳng kém. 20 Người chẳng có lưỡng lự hoặc hồ nghi về lời hứa Đức Chúa Trời, nhưng càng mạnh mẽ trong đức tin, và ngợi khen Đức Chúa Trời, 21 vì tin chắc rằng điều chi Đức Chúa Trời đã hứa, Ngài cũng có quyền làm trọn được. 22 Cho nên đức tin của người được kể cho là công bình. 23 Vả, ấy chẳng phải chỉ vì một mình người mà có chép rằng đức tin người đã được kể cho là công bình, 24 nhưng cũng vì chúng ta nữa, đức tin sẽ được kể là công bình cho chúng ta, là kẻ tin Đấng đã làm cho Đức Chúa Jêsus, Chúa chúng ta, sống lại từ trong kẻ chết, 25 Ngài đã bị nộp vì tội lỗi chúng ta, và sống lại vì sự xưng công bình của chúng ta."
Đức tin của Áp-ra-ham vốn đã mạnh mẽ nhưng cũng được củng cố thêm. Ông đã được thêm sức trong đức tin. Nhờ đức tin, Áp-ra-ham không nhìn vào hoàn cảnh (thân thể mình và sự già nua của Sa-ra) mà nhìn vào lời hứa của Đức Chúa Trời.
Áp ra ham không vì vô tín mà nghi ngờ lời hứa của Đức Chúa Trời: Đức tin của ông không hề nao núng; và điều đó đã đem lại vinh hiển cho Đức Chúa Trời. Dù đối mặt với thử thách to lớn, Áp-ra-ham vẫn kiên định trong đức tin.
Đức tin của Áp-ra-ham nảy sinh nhờ ông hoàn toàn tin chắc vào năng lực của Đức Chúa Trời trong việc thực hiện những gì Ngài đã hứa. Đức Chúa Trời của Áp ra ham ngày xưa, cũng là Đức Chúa Trời của chúng ta ngày nay.
Phao lô hỏi chúng ta: "Bạn có nghĩ là Đức Chúa Trời của bạn nhỏ bé hơn chăng?" Không đâu, Đức Chúa Trời của bạn là của Áp-ra-ham xưa, có quyền năng thực hiện những gì Ngài đã hứa, và Áp-ra-ham hoàn toàn tin chắc vào điều đó.
Một số người không đến với Chúa Giê-xu hoặc không bước tiếp cùng Ngài, vì họ không hoàn toàn tin chắc rằng Ngài có thể thực hiện những gì Ngài đã hứa. Họ nghĩ rằng: "Điều đó có thể đúng với người khác nhưng sẽ không hiệu quả với tôi."
Suy nghĩ này là một sự tấn công của ma quỷ nhắm vào đức tin, và cần phải bị loại bỏ. Việc Đức Chúa Trời tuyên xưng Áp-ra-ham là người công chính nhờ đức tin không chỉ vì lợi ích của riêng Áp ra ham; ông là tấm gương mà chúng ta được mời gọi noi theo, vì điều đó cũng dành cho chúng ta nữa. Sự công chính ấy sẽ được kể cho chúng ta, những người có đức tin.
Khi nói đức tin cứu rỗi nơi Đức Chúa Jêsus, điều quan trọng cần nhấn mạnh là chúng ta tin công việc của Ngài trên thập tự giá, Ngài đã bị phó nộp vì tội lỗi chúng ta, và sự đắc thắng trên tội lỗi cùng sự chết, Ngài đã sống lại để chúng ta được xưng công chính, là điều cứu rỗi chúng ta.
Trong chương này, Phao-lô đã chứng minh rằng Cựu Ước hoàn toàn không mâu thuẫn với Tin Lành về sự cứu rỗi bởi ân điển và đức tin. Trái lại, Tin Lành chính là sự ứng nghiệm của Cựu Ước, và Áp-ra-ham, người được xưng công chính nhờ đức tin, chính là tấm gương cho chúng ta.